Triệu Dương Vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Triệu Dương Vương
Vua nước Nam Việt (chi tiết...)
Vua nhà Triệu
Trị vì 112 TCN111 TCN
Tiền nhiệm Triệu Ai vương
Kế nhiệm Nhà Hán đô hộ
Thông tin chung
Tên đầy đủ Triệu Kiến Đức (趙建德)
Thụy hiệu (Vệ) (Thuật) Dương Vương
Triều đại Nhà Triệu
Thân phụ Triệu Minh Vương
Thân mẫu người Việt (không rõ tên)
Sinh ?
Mất 111 TCN
Nam Việt

Triệu Dương Vương (趙陽王), hay Triệu Thuật Dương vương (趙術陽王), Triệu Vệ Dương vương (趙衛陽王)[1], tên họ thật là Triệu Kiến Đức (tên chữ Hán: 趙建德; âm Quảng Đông: Chiu Kin-tak), trị vì từ năm 112 TCN - 111 TCN, là vị vua cuối cùng của nhà Triệu nước Nam Việt trong lịch sử Việt Nam.

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Kiến Đức là con của Triệu Minh vương, mẹ ông là người Việt. Vua cha không chọn ông nối nghiệp mà chọn Triệu Hưng là con của hoàng hậu người Hoa Cù thị.

Cù hậu tư thông với sứ giả nhà Hán là An Quốc Thiếu Quý, muốn mang Nam Việt quy phục nhà Hán. Triệu Ai Vương còn trẻ, chỉ biết nghe theo lời mẹ. Kết quả là Thừa tướng Lữ Gia giết hại Cù hậu, Ai Vương và cả Thiếu Quý. Sau đó, đưa Kiến Đức kế vị, tức là Triệu Dương Vương.

Sử ký Tư Mã Thiên chép (q. 113, t. 5b): "Lữ Gia... và các quận huyện lập con trai trưởng của Minh Vương, con người vợ Việt Nam là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua".

Cuộc chiến chống nhà Hán và hồi kết[sửa | sửa mã nguồn]

Vua nhà Hán là Hán Vũ Đế (Lưu Triệt) tức giận việc nhà Triệu giết Thiếu Quý bèn sai Hàn Thiên Thu đi đánh Nam Việt. Quân Hán chiếm được vài ấp, tiến đến gần Phiên Ngung thì bị Lữ Gia mang quân chặn đánh, giết chết Hàn Thiên Thu.

Hán Vũ Đế được tin Thiên Thu bị giết, sai Lộ Bác Đức đem binh từ Quế Dương, Dương Bộc dùng Lâu thuyền đem quân xuất phát từ Dự Chương, Nghiêm dùng Qua thuyền xuất phát từ Linh Lăng, Hạ lại tướng quân Giáp đem quân xuống Thương Ngô, Trì Nghĩa hầu Quý đem quân Dạ Lang xuống sông Tường Kha, đều hội cả ở Phiên Ngung, nước Nam Việt.

Mùa đông năm 111 TCN, Dương Bộc nhà Hán đem 9000 tinh binh hãm Tầm Hiệp, phá Thạch Môn (Lữ Gia chất đá giữa sông gọi là Thạch Môn) lấy được thuyền thóc của ta kéo luôn cả các thuyền ấy đi, đem mấy vạn người đợi Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức. Bác Đức nói vì đường xa nên chậm, rồi cùng với Lâu thuyền tướng quân hội quân tiến đến Phiên Ngung. Bấy giờ [Lộ Bác Đức] có hơn 1 nghìn người cùng tiến với quân Dương Bộc. Dương Bộc đi trước đến Phiên Ngung. Vua và Lữ Gia cùng giữ thành. Dương Bộc tự chọn chỗ thuận tiện đóng ở mặt đông nam; Lộ Bác Đức đóng ở mặt tây bắc. Vừa chập tối, Dương Bộc đánh bại quân Triệu, phóng lửa đốt thành. Bác Đức không biết quân trong thành nhiều hay ít bèn đóng doanh, sai sứ chiêu dụ. Kẻ nào ra hàng đều cho ấn thao và tha cho về để chiêu dụ nhau. Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc cố sức đánh, đuổi quân Triệu chạy ngược vào dinh quân của Lộ Bác Đức. Đến tờ mờ sáng thì trong thành đầu hàng. Vua và Gia cùng với vài trăm người, đang đêm chạy ra biển. Bác Đức lại hỏi những người đầu hàng biết chỗ ở của Gia, bèn sai người đuổi theo. Hiệu úy tư mã là Tô Hoằng bắt được vua, quan lang Việt là Đô Kê (có bản chép là Tôn Đô) bắt được Gia. Bấy giờ quân của Hạ lại và Qua thuyền tướng quân, cùng quân Dạ Lang của Trì Nghĩa hầu chưa đến mà nước Việt ta đã bị Lộ Bác Đức và Dương Bộc dẹp yên rồi. Bấy giờ nước Việt ta sai ba quan sứ đem 300 con trâu, 1000 chung rượu và sổ hộ của 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam đến xin hàng; Lộ Bác Đức nhân đó cho ba người ấy làm thái thú ở 3 quận để trị dân như cũ). Từ đó nhà Hán lấy đất chia làm 9 quận là:

Từ đấy nhà Hán bắt đầu đặt Thứ sử, Thái thú. Chế độ nhà Hán đặt Thứ sử cai trị một châu, Thái thú cai trị một quận (quận là cấp dưới của châu).

Lời bình trong Đại Việt Sử Ký toàn thư có chép:

Xã tắc họ Triệu, Cù hậu làm cho nghiêng, gốc đã nhổ trước rồi, ngọn cũng theo mà đổ.

Từ đây, vùng lãnh thổ Bắc Việt Nam trải qua thời kỳ cai trị của nhà Hán.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tên gọi chưa thống nhất. Việt Sử lược là tài liệu cổ nhất ghi Vệ Dương vương(?), Đại Việt sử ký toàn thư ghi là Thuật Dương vương, Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi là Thuật Dương hầu, Việt Nam sử lược ghi là Dương Vương. Nguyễn Trãi toàn tập, NXB KHXH, Hà Nội, 1976 thì cho rằng ghi Vệ Dương là nhầm vì chữ Vệ 衛 gần giống chữ Thuật 術 (trang 545). Chứng cớ đưa ra là Sử ký Tư Mã Thiên ghi là Thuật Dương hầu, chính sử (Khâm định Việt sử thông giám cương mục) và Việt Sử lược (đoạn chép về thời Trần) cũng ghi vậy, chỉ có Dư địa chí chép là Vệ Dương.