Triệu Văn Vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Triệu Văn vương
Vua nước Nam Việt (chi tiết...)
Vua nhà Triệu
Trị vì 137 TCN124 TCN
Tiền nhiệm Triệu Vũ vương
Kế nhiệm Triệu Minh vương
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên đầy đủ Triệu Mạt
Triệu Muội
Triệu Hồ
Triều đại Nhà Triệu
Thân phụ Trọng Thủy
Sinh 175 TCN
Mất 124 TCN
Nam Việt

Triệu Văn Vương (趙文王, bính âm: Zhào Wén Wáng, phiên âm tiếng Quảng Đông: Chiu Man Wong), húy Triệu Mạt, có khi phiên là Triệu Muội (趙眜, bính âm: Zhào Mò, phiên âm tiếng Quảng Đông: Chiu Mut), còn gọi là Triệu Hồ (趙胡, bính âm: Zhào Hú, phiên âm tiếng Quảng Đông: Chiu Wu), là vị vua thứ 2 nhà Triệu nước Nam Việt, cháu nội của Triệu Đà, lên ngôi năm 137 TCN.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, Triệu Hồ sinh năm 175 TCN, mất năm 124 TCN, là con của Triệu Trọng Thủy - con trai Triệu Đà và con rể An Dương Vương. Trọng Thủy mất trước Triệu Đà nên Triệu Hồ được chọn làm người kế vị vua Nam Việt.

Thần phục nhà Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây Triệu Đà xưng là Nam Việt Vũ đế nhưng sau đó thần phục nhà Hán nên đổi lại xưng là Nam Việt Vương.

Năm 137 TCN, Triệu Đà mất, Triệu Hồ lên nối ngôi làm Nam Việt Vương. Lúc bấy giờ vua đất Mân Việt là Dĩnh đem binh đánh các ấp ngoài biên của nước Nam Việt. Triệu Hồ sai người dâng thư lên vua Hán Vũ Đế rằng:

Hai nước Việt đều là phiên thần, không được đem binh đánh nhau. Nay nước Mân Việt đem binh xâm lấn đất của thần, thần không dám đánh lại, xin đợi thiên tử chiếu truyền cho việc ấy.


Hán Vũ Đế khen Nam Việt biết giữ chức phận mình, hứa sẽ đưa quân đến giúp, bèn sai hai tướng quân đi đánh Mân Việt. Quân Hán chưa vượt núi Ngũ Lĩnh thì em của Mân Việt Vương là Dư Thiện đã giết Dĩnh để hàng. Vì thế nhà Hán bãi binh.

Hán Vũ Đế sai Trang Trợ sang Nam Việt hiểu dụ ý của Triệu Hồ. Nam Việt Vương Hồ dập đầu tạ ơn, rồi sai thái tử là Triệu Anh Tề vào Trung Quốc làm túc vệ ở nơi cung cấm. Sứ Hán là Trang Trợ muốn triệu Triệu Hồ vào chầu vua Hán, Triệu Hồ bảo Trợ đi trước, rồi ngày đêm sắm sửa hành trang để vào triều kiến vua Hán. Sau khi Trợ đi rồi, đại thần can Triệu Hồ rằng:

Nhà Hán dấy quân đánh Dĩnh cũng là làm cho Nam Việt hoảng sợ. Vả lại tiên vương trước có nói: "Phụng sự thiên tử cốt không thất lễ, không nên nghe lời dỗ ngon dỗ ngọt mà vào chầu". Nếu vào chầu thì không được về, đó là cái thế mất nước đấy.

Vì vậy Triệu Hồ mượn cớ bị bệnh nặng, cho gọi thái tử Anh Tề. Anh Tề xin về nước. Sử thần Ngô Sĩ Liên nói:

Văn Vương giao thiệp với nước láng giềng phải đạo, nhà Hán khen là có nghĩa, đến mức dấy binh đánh giúp kẻ thù; lại biết nghe lời can, cáo bệnh không sang chầu nhà Hán, giữ phép nhà để mưu cho con cháu, có thể gọi là không xấu hổ với ông nội.

Năm 124 TCN, Triệu Hồ qua đời, hưởng thọ 52 tuổi, được đặt thụy hiệuVăn Vương. Thái tử Anh Tề lên ngôi thay, tức là Triệu Minh Vương.

Lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Thi thể Văn Vương quấn bởi lụa đỏ và nằm trong quan tài ngọc
Ấn có khắc bốn chữ Văn Đế hành tỉ của Triệu Văn Vương

Lăng mộ của Triệu Văn Vương được phát hiện năm 1983, nằm ở độ sâu 20 m dưới Tượng Cương sơn ở Quảng Châu khi người ta đào móng để xây dựng một khách sạn, và nó đã được khai quật. Khu lăng mộ này dài 11 m và rộng 12 m, xây dựng theo hướng bắc-nam, kiểu chữ sĩ (士). Nó được chia ra làm 7 phần, với một gian tiền đường, hai gian nhĩ thất ở phía đông (chứa các đồ phục vụ ăn uống) và tây (chứa xe ngựa, binh khí, các vật dụng trân quý), gian chính đặt quan tài kiểu trong quan ngoài quách, hai gian trắc thất phía đông tây, và 1 gian nhà kho ở hậu cung. Khu lăng mộ này chứa trên 1.000 cổ vật tùy táng (gồm các đồ vật bằng vàng, bạc, đồng, sắt, gốm và ngọc), một cỗ xe ngựa kéo, các chai lọ bình bằng vàng và bạc, các nhạc cụ, và người ta cũng tìm thấy xương cốt của các thê thiếp, nô bộc được tuẫn táng cùng (tổng cộng 15 người, trong đó tại gian trắc thất phía đông có 4 nàng hầu, thê thiếp được tuẫn táng theo, tại gian trắc thất phía tây có 7 nô bộc được tuẫn táng theo). Nó cũng là khu lăng mộ duy nhất thời kỳ đầu Tây Hán có các bức bích họa trên các bức tường.

Khu lăng mộ này cũng chứa chiếc ấn cổ nhất được phát hiện trong các khu lăng mộ tại Trung Quốc: trên chiếc ấn vàng này khắc 4 chữ "Văn Đế hành tỉ" kiểu tiểu triện âm văn, chỉ ra rằng đương thời ông tự coi mình sánh ngang với các hoàng đế nhà Hán.

Bên cạnh các cổ vật Trung Hoa, người ta còn tìm thấy các đồ vật có nguồn gốc từ vùng thảo nguyên Trung Á, IranHy Lạp cổ đại: một chiếc hộp bằng bạc kiểu Ba Tư được tìm thấy trong mộ là sản phẩm nhập khẩu sớm nhất được tìm thấy cho tới nay tại Trung Quốc.

Bảo tàng Lăng mộ Tây Hán Nam Việt Vương được xây dựng bên cạnh khu lăng mộ này.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]