Triệu Vi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Triệu Vy
Zhao Wei.jpg
Phồn thể 趙薇
Giản thể 赵薇
Tên khai sinh Triệu Vy
Ngày sinh 12 tháng 3, 1976 (38 tuổi)
Nơi sinh Vu Hồ, An Huy,  Trung Quốc
Tên khác Vicki Zhao
Nghề nghiệp Ca sĩ, diễn viên
Loại hình Mandopop
Hãng đĩa MBOX
Năm hoạt động 1993 – nay
Trang web chính thức www.zhaowei.com.cn

Triệu Vy (sinh ngày 12 tháng 3 năm 1976) là một nữ diễn viên, đạo diễnca sĩ nhạc Pop Trung Quốc. Cô được biết đến nhiều nhất là vào vai Tiểu Yến Tử trong bộ phim danh tiếng Hoàn Châu Cách Cách.[1]

Sơ lược tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Vy sinh ra và lớn lên ở Vu Hồ, tỉnh An Huy, Trung Quốc. Cha cô là ông Triệu Gia Hải, một công trình sư cấp cao, còn mẹ là bà Ngụy Khải Dĩnh vốn là một giảng viên thanh nhạc, nay cả hai đã nghỉ hưu. Ngoài ra, Triệu Vy còn có một anh trai. Ngay từ nhỏ, Triệu Vy đã là cô bé dạn dĩ, không biết mắc cỡ, sợ hãi là gì.

Triệu Vy tốt nghiệp Tiểu học và cấp II tại trường sư phạm Shi Fan Fu Xiao và Trường Sư phạm cấp 2 Số 17. Năm 1992, cô thi đậu vào trường Sư phạm thành phố Vu Hồ. Năm 1993 khi đoàn làm phim Họa Hồn đến Vu Hồ tìm diễn viên phụ đã chọn Triệu Vy đóng cặp với nữ diễn viên nổi tiếng Củng Lợi. Đây cũng là kinh nghiệm phim ảnh đầu tiên của Triệu Vy. Sau khi chọn theo nghiệp diễn xuất, Triệu Vy đăng kí theo học tại Học viện Hằng Thông Thượng Hải.

Năm 1994, Triệu Vy lần lượt tốt nghiệp hai trường Sư phạm thành phố Vu Hồ và Học viện Hằng Thông. Năm 1995, cô đặt chân tới Bắc Kinh – miền đất hứa cho các diễn viên. Tháng 4/1996, Triệu Vy đăng ký dự thi vào Học viện điện ảnh Bắc Kinh và Học viện Hí kịch Trung Quốc. Tháng 5/1996, sau khi hoàn thành bộ phim truyền hình "Chị em cùng lên Bắc Kinh", cô trở về Vu Hồ ôn tập văn hoá để quyết tâm thi đỗ. Tháng 9/1996 cô đã đỗ đầu trong kì thi vào Học viện điện ảnh Bắc Kinh, khoa diễn xuất và tốt nghiệp năm 2000.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Từ 1993 đến 1997[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Vy lần đầu tiên đóng phim là vào năm 1993, khi được chọn vào vai một cung nữ trong bộ phim Họa Qủy với diễn viên chính là Củng Lợi. Năm 1995, sau khi tốt nghiệp cấp ba, cô đóng phim truyền hình đầu tiên, Nàng Phi Yến trong cung nhà Hán, nhưng cũng chỉ là vai một cô cung nữ, vai phụ. Cũng trong năm này, Triệu Vy được đão diễn Tạ Tấn mời tham gia trong bộ phim điện ảnh Nữ Nhi Cốc. Trong phim này, cô được giữ một vai tương đối lớn.

Từ 1998 đến 2001[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi đảm nhận một số vai nhỏ trong một số phim truyền hình và điện ảnh, Triệu Vy lần đầu tiên được đảm nhận vai chính trong phim truyền hình Chị em gái đến Bắc Kinh. Cũng chính lúc này, cô được nữ văn sĩ Quỳnh Dao để mắt tới. Bà nhận thấy Triệu Vy tuy hơi béo một chút nhưng là một cô gái thông minh. Năm 1997, Triệu Vy phải giảm cân và nhận vai chính trong bộ phim truyền hình của Quỳnh Dao mang tên Hoàn Châu Cách Cách. Bộ phim nổi tiếng một cách nhanh chóng, trở thành cơn sốt trên nhiều nước châu Á, đưa tên tuổi Triệu Vy cùng các bạn diễn là Tô Hữu Bằng, Lâm Tâm Như, Châu Kiệt, Phạm Băng Băng lên hàng các ngôi sao mới nổi.

Năm 1999, Triệu Vy trở thành nữ diễn viên trẻ nhất được nhận giải Kim Kê cho diễn viên chính xuất sắc nhất. Từ đó, Triệu Vy tiếp tục nổi tiếng với những bộ phim truyền hình và đã xuất bản những album nhạc riêng của mình. Những album này đều bán rất chạy.

Năm 2001, Triệu Vy tham gia bộ phim Đội bóng Thiếu lâm của đạo diễn, diễn viên kiêm nhà sản xuất phim nổi tiếng Châu Tinh Trì của Hồng Kông. Trong phim, Triệu Vy đóng vai A Mai, một cô gái làm bánh xấu xí, khác hẳn với hình ảnh xinh đẹp của cô trong Hoàn Châu Cách Cách. Triệu Vy đã nhận xét về vai diễn này của mình: "Bạn có thấy không? Tôi trông thật xấu xí trong hình dáng đó". Tuy nhiên, qua vai diễn này, Triệu Vy thấy rằng cô đã học được nhiều điều. "Tôi muốn được thử thách", Triệu Vy phát biểu trong một cuộc phỏng vấn, "và anh ấy thật sự đã thử thách tôi. Ở Trung Quốc, mọi người nghĩ rằng tôi xinh đẹp, nhưng anh ấy không để cho tôi xinh đẹp. Mọi người nói rằng tôi có đôi mắt to. Anh ấy làm cho chúng nhỏ lại. Những vai diễn trước đây của tôi là những vai nghịch ngợm, tự do. Trong phim này, tôi thực sự phải nhẫn nhục. Những gì tôi làm trước đây, anh ấy đều làm ngược lại".

Cũng trong năm 2001, Triệu Vy tham gia vào một bộ phim truyền hình khác của Quỳnh Dao mang tên Tân dòng sông li biệt (bộ phim này được làm lại từ bộ phim Dòng sông li biệt, do 2 diễn viên chính là Tần HánLưu Tuyết Hoa đóng). Trong phim, Triệu Vy đảm nhận vai Lục Y Bình, một cô gái xinh đẹp, có tính khí mạnh mẽ, kiên cường, nhưng lại đầy lòng hằn thù. Triệu Vy lại một lần nữa được tái ngộ với các bạn diễn của cô trong phim Tân dòng sông ly biệt là Tô Hữu Bằng, Lâm Tâm Như. Vai diễn này thực sự giúp Triệu Vi thoát khỏi hình ảnh của nàng Tiểu Yến Tử hoạt bát, nhí nhảnh trong Hoàn Châu Cách Cách. Sau đó, Triệu Vy tiếp tục tham gia bộ phim Thiên hạ vô song của đạo diễn Vương Gia Vệ cùng các bạn diễn là Lương Triều Vĩ, Vương Phi. Trong phim Triệu Vy vào vai Lương Tiểu Muội.

Từ 2002 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2002, Triệu Vy cùng Thư KỳMạc Văn Úy đảm nhận vai chính trong bộ phim Gác kiếm (có tên khác là Tịch dương thiên sứ) do hãng Colombia của Mĩ sản xuất riêng cho thị trường châu Á. Triệu Vy đã nói cảm tưởng khi đóng phim: "Quay Tịch Dương Thiên Sứ vô cùng khổ cực, mỗi ngày đều đánh đánh giết giết, mà đều là đánh thật, nhưng không phải là kiểu khoa chân múa tay đơn giản. Đạo diễn Nguyên Khuê của chúng tôi vốn là một huấn luyện viên võ thuật. Qua phim tôi đã học được rất nhiều thứ, nhưng không dùng đến trong cuộc sống hàng ngày!. Tạo hình trong phim của tôi rất tự nhiên, chân thực". (trích trong Từ điển điện ảnh - Tứ tiểu hoa đán). Bộ phim nhận được những đánh giá rất tốt.

Sau bộ phim Tân dòng sông ly biệt của năm 2001, Triệu Vy trở thành ngôi sao phim truyền hình. Năm 2003, cô tham gia 4 phim: Chế tạo bạn gái, Thiên địa anh hùng, Trà xanh và Ngọc Quan Âm. Ở mỗi phim, Triệu Vy đều đóng những vai khác nhau và đều rất thành công. Riêng bộ phim Ngọc Quan Âm là của đạo diễn Hứa An Hoa, một đạo diễn nổi tiếng của châu Á. Đạo diễn Hứa đã tìm kiếm rất cẩn thận người có thể đảm nhận vai nữ chính An Tâm trong phim, và cuối cùng bà đã chọn Triệu Vy. Trong phim, Triệu Vy đóng cặp với ca sĩ, diễn viên nổi tiếng Tạ Đình Phong của Đài Loan. Vai diễn này đã tiếp tục khẳng định danh hiệu ngôi sao cho Triệu Vy.. Cô đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi cho vai diễn này. Trên báo Time Asia, Triệu Vi phát biểu: "Buổi sáng, khi tôi chuẩn bị diễn, đạo diễn Hứa nhìn rất chăm chú vào mặt và mắt của tôi để tôi tỉnh táo hay uể oải, mệt mỏi. Rồi bà nói 'Bác thấy rằng hôm qua cháu đã ngủ ngon'. Bác ấy rất hiểu về những diễn viên của mình, cứ như thể chúng tôi là những nhạc cụ chơi rất chính xác vậy". Năm 2004, Triệu Vy lồng tiếng công chúa Fiona trong bộ phim hoạt hình Shrek 2 bằng tiếng Trung. Sau đó, cô nhận được giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại Liên hoan phim sinh viên Bắc Kinh lần thứ 11 cho vai diễn trong phim Thiên địa anh hùng, cho dù trong phim này, Triệu Vy chỉ có đúng 25 lời thoại. Năm 2005 là năm thực sự thành công đối với cô, khi cô được nhận giải Ảnh hậu tại Liên hoan phim quốc tế Thượng Hải và giải Diễn viên chính xuất sắc nhất trong Liên hoan phim Hoa Biểu cho vai diễn trong phim Tình nhân kết. Vẫn với vai diễn này, Triệu Vy tiếp tục nhận vai nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong Liên hoan phim Trường Xuân - Trung Quốc năm 2006. Năm 2004, sau bốn năm trời vắng bóng trên màn ảnh truyền hình, Triệu Vy hội ngộ khán giả màn ảnh nhỏ trong bộ phim Kinh hoa yên vân với vai diễn Diêu Mộc Lan. Khi so sánh vai diễn này với các vai diễn trước của cô, 80% khán giả đều thích vai diễn này hơn. Tại Liên Hoan điện ảnh-truyền hình 2006, với vai diễn Diêu Mộc Lan cô lại ẵm giải" Nữ diễn viên truyền hình yêu thích nhất" - giải thưởng truyền hình sau 4 năm vắng bóng. Sau đó, Triệu Vy được xếp vị trí thứ 4 trong top những người Trung Quốc nổi tiếng của tạp chí Forbes. Cũng trong năm 2006, sau khi hoàn thành bộ phim Kinh hoa yên vân, cô tham gia 2 phim điện ảnh là Đêm Thượng HảiCuộc sống hậu hiện đại của dì tôi. Trong Đêm Thượng Hải, Triệu Vy vào vai một người lái taxi. Bộ phim sẽ được công chiếu vào năm 2007. Bên cạnh đó, bộ phim Cuộc sống hậu hiện đại của dì tôi cũng được đem tham dự nhiều liên hoan phim quốc tế, trong đó có Liên hoan phim quốc tế Toronto. Triệu Vy cũng nhận được giải Diễn viên phụ xuất sắc nhất với vai diễn trong phim tại giải Kim Mã.

Năm 2005, Triệu Vy tham gia kì thi tuyển nghiên cứu sinh cho hai chuyên ngành đạo diễn và diễn viên tại Học viện điện ảnh Bắc Kinh, trường cũ của cô. Cô đạt số điểm rất ấn tượng, đặc biệt với một minh tinh nổi tiếng và vào nghề 10 năm mà vẫn thu được kết quả rất cao, chứng tỏ những câu bàn luận về Triệu Vy trước đây rất đúng - Triệu Vy rất ham học, đọc sách là niềm hứng thú của cô ấy. Sau khi thi đỗ, vào tháng 9 năm 2006, Triệu Vy nhập học khóa học đạo diễn như những sinh viên bình thường khác. Theo như nguồn tin do Diễn viên, giảng viên Hoàng Lỗi: Triệu Vy sẽ được giữ lại giảng dạy tại Học viện điện ảnh. Nhưng quyết định cuối cùng thuộc về Triệu Vy.

Hiện tại, Phim truyền hình "cảm ơn anh đã từng yêu em" đã trình chiếu trên các Đài Trung Quốc, khiến rất nhiều bạn xem yêu thích. "Đêm Thượng Hải" đang công chiếu tại Trung Quốc với lượng vé rất đáng nể, Triệu Vy nói tạm biệt với biệt hiệu "thuốc độc phòng vé" - đây là câu mở đầu rất nhiều trang báo thời gian gần đây. Sắp tới sẽ trình chiếu tại Nhật Bản. Hi vọng sẽ tạo cơn sốt phòng vé như ở Trung Quốc. Với vai diễn xuất sắc Lâm Tịch, cô lại cũng nhận giải" Nữ diễn viên được yêu thích nhất" tại Liên hoan phim Sinh viên lần thứ 14 vừa rồi và " Nữ viễn viên xuất sắc" tại Liên hoan phin Quốc tế Thượng Hải lần 10.

Năm 2007, Triệu Vy lại có dịp thực hiện giấc mơ võ hiệp, một thể loại mà cô đã khá thành công. Năm 2007, cô tham gia phim điện ảnh Xích Bích với nguồn kinh phí lớn nhất lịch sử Hoa Ngữ hơn 80 triệu USD, do trụ sở điện ảnh Hollywood liên thủ với Tập đoàn điện ảnh Trung Quốc, tập đoàn Anh hoàng Hồng Kông và xí nghiệp phim Tử Cấm Thành Bắc Kinh, tập đoàn truyền thông Thành Đô cùng bỏ vốn đầu tư. Phim quy tụ hàng loạt ngôi sao tên tuổi như: Triệu Vy, Lương Triều Vĩ. Lâm Chí Linh,... Phim hiện đang gây xôn xao tại Trung Quốc...

Cuối năm 2012, Triệu Vy được giới truyền thông Đức ca ngợi là "Angelina Jolie Châu Á".[2] Tháng 5 năm 2013, Triệu Vy giành thắng lợi lớn cho Gửi thanh xuân, bộ phim đầu tay do cô đạo diễn.[3] Phim đã thu được 350 triệu NDT, tương đương với 56,8 triệu USD.[4]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1999, Triệu Vy gia nhập làng âm nhạc và cho ra album dầu tiên mang tên Tiểu Yến Tử, trong đó bao gồm nhiều bài hát trong phim Hoàn Châu Cách Cách. Cùng năm, album thứ hai Ái tình đại ma chú được xuất bản. Năm 2001, Triệu Vy xuất bản album thứ 3 The last separation. Cả 3 album này đều bán rất chạy ở Trung Quốc với số lượng hơn 3 triệu bản, nhưng lại không nhận được sự hưởng ứng từ các nhà phê bình. Trong album Tân dòng sông ly biệt, Triệu Vy đã thể hiện nhiều bài hát do nữ văn sĩ Quỳnh Dao viết lời. Trong bộ phim cùng tên, nhân vật Lục Y Bình mà cô đảm nhiệm cũng thể hiện rất nhiều bài hát.

Sau 3 năm vắng bóng trên thị trường âm nhạc để chú trọng cho việc đóng phim, năm 2004, Triệu Vy cho ra album thứ 6 với tiêu đề Phiêu. Triệu Vy coi album này như lời phản kháng của cô trước những tin đồn không hay. Cả các fan hâm mộ lẫn các nhà phê bình đều nhận thấy album mới đã thể hiện sự trưởng thành hơn và kĩ thuật hát cũng như sự biểu lộ cảm xúc của Triệu Vy tốt hơn. Trong album có rất nhiều bài hit như Dần dần, Ngày chủ nhật trời mưa. Album mới nhất của cô mang tên Song - nói về một Triệu Vy hai tính cách, một Triệu Vi trẻ trung, thời thượng, một Triệu Vy thanh nhã, tươi mới - với các bài đáng chú ý như Phần nhỏ bé, Tôi và Thượng Quan Yến, trong đó còn có bài Phát hiện, ca khúc chủ đề phim Kinh hoa yên vân.

Sự nghiệp ca hát của Triệu Vy bắt đầu tỏa sáng khi cô nhận được một loạt các giải thưởng lớn như trong album Phiêu ca khúc Dần Dần được bình chọn là ca khúc của năm 2004. Ca khúc Ngày chủ nhật mưa giúp Triệu Vy thắng đậm tại giải Tuyết Bích - Triệu Vy thắng lớn với 3 giải (giải Nghệ sĩ kiệt xuất toàn năng; giải Ca sĩ yêu thích nhất - do khán giả bình chọn, giải "10 ca khúc vàng" cho bài Chủ nhật trời mưa). Ngày 19 tháng 3 năm 2005, tại buổi lễ phát giải lần thứ 12 của Đông Phương Phong Vân Bảng, với ca khúc Dần Dần, Triệu Vy nhận 3 giải thưởng Top 10 Ca khúc vàng của năm, Video clip xuất sắc nhất và Biểu diễn sân khấu xuất sắc nhất, những thành tích đã đạt không làm mọi người ngạc nhiên nhưng điều khiến khán giả có mặt hôm đó kinh ngạc chính là cách tạo hình ấn tượng với mái tóc được làm xù lên. Album Song còn đem lại cho Triệu Vy nhiều thành công hơn, tại Bảng xếp hạng Top Trung Quốc Music Radio 2005, Triệu Vy thắng lớn với giải Nữ ca sĩ được yêu thích nhất khu vực đại lục, giải nhất ca khúc vàng 2005 với ca khúc Tôi và Thượng Quan Yến). Album Song của Triệu Vy đã lọt vào danh sách album nhạc của năm cùng với 26 album khác như: U87 của Trần Dịch Tấn, Gặp gỡ bất ngờ của Chu Tấn, Tiêu Bang tháng 11 của Chu Kiệt Luân, Một ngày hoàn mĩ của Tôn Yến Tư, Look của Lương Vịnh Kì, Tinh Chiến của Cổ Cự Cơ, Trọn một đêm của Lưu Nhược Anh... Sau đó, cô lại được nhận giải Nghệ sĩ được yêu thích nhất từ Trung Hoa đại lục của MTV Châu Á. Với những giải thưởng lớn, có thể nói Triệu Vy hiện đang là nữ ca sĩ số 1 của Trung Quốc và trở thành hiện tượng độc của Trung Quốc lẫn Châu Á.

Với những thành công mà hai Album "phiêu" và "song" đem lại, cô lại tiếp tục chuẩn bị cho ra mắt Album mới với sự hợp tác lần đầu với MBOX, bìa album được chụp tại Hàn Quốc, cảnh quay được tiến hành tại NewZealand, mang phong cách nhạc Jazz. Để chuẩn bị cho ra lò Album mới, MBOX đã không tiếc tiền đầu tư những khoản kếch xù cho ca sĩ Triệu Vy. Album cũng đánh dấu sự mở đầu cho sự nghiệp đạo diễn của Triệu Vy. Album được cô chỉ đạo theo như các nhân viên theo đoàn cho biết là rất tỷ mỉ, đặc sắc. Tạo hình cho Triệu Vy lần này là các nhân viên hoá trang nổi tiếng Hàn Quốc đã từng tạo hình cho Rain, Lương Triều Vỹ, Kim Hee Sun... Album còn có sự hợp tác bởi ca sĩ nổi tiếng Hàn Quốc JuJin,... Vừa rồi, ca khúc mở đầu album mang tên " Hành trang thiên sứ" đã chính thức trình làng mang lại một cảm giác mới cho khán giả, lập tức ca khúc có trong các Top nhạc của các trang nghe nhạc trên toàn Trung Quốc với tỉ suất nghe cao ngất ngưởng.

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thường điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1999
  • LHP Truyền hình Kim Kê lần thứ 17: nhận giải diễn viên nữ xuất sắc nhất cho vai diễn Tiểu Yến Tử.
Năm 2003
  • LHP Sinh viên Bắc Kinh lần thứ 11: diễn viên xuất sắc nhất cho vai diễn trong phim điện ảnh Thiên địa anh hùng.
  • Giải thưởng điện ảnh Trung Hoa lần thứ 4: nghệ sĩ được yêu thích nhất
Năm 2005
  • LHP Quốc tế Thượng Hải lần thứ 8: diễn viên xuất sắc nhất cho vai Khuất Nhiên trong phim Tình Nhân Kết
  • Giải thưởng Kinh viện điện ảnh nhận giải Kim Phụng cho vai diễn trong phim Ngọc Quan Âm
  • LHP Hoa Biểu lần thứ 11: diễn viên xuất sắc nhất cho vai Khuất Nhiên trong Tình nhân kết
Năm 2006
  • Top 10 nữ nghệ sĩ Trung Quốc: đứng đầu danh sách cho sự thể hiện thành công vai diễn Diêu Mộc Lan trong phim truyền hình Kinh hoa yên vân
  • LHP Trường Xuân lần thứ 8: diễn viên xuất sắc nhất cho vai diễn trong phim Tình nhân kết
  • LHP truyền hình lần thứ 2: diễn viên nữ được yêu thích nhất từ Trung Hoa đại lục
Năm 2009
  • Nữ diễn viên được yêu thích nhất liên hoan phim sinh viên lần thứ 17
Năm 2010
  • Giải thưởng phê bình điện ảnh Thượng Hải lần thứ 19 – Triệu Vi vinh dự đạt giải nữ diễn viên xuất sắc nhất.
  • Nữ diễn viên xuất sắc Liên hoan phim Trường Xuân
  • Nữ diễn viên xuất sắc nhất: Triệu Vy – phim Hoa Mộc Lan (Mulan)

Giải thưởng âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1999
  • Giải thưởng âm nhạc đặc biệt: giải thưởng ca sĩ tiềm năng
  • Giải Radio Hongkong: nghệ sĩ tiến bộ nhất
  • Tại giải phát thanh từ xa: giải ca sĩ được yêu thích nhất
Năm 2000
  • Giải Top 10 bài hát vàng của đài Radio Hongkong lần thứ 22: huy chương đồng cho bài hát tiếng Quan Thoại: Có một cô gái
Năm 2001
  • Giải thưởng âm nhạc hàng năm: nhận giải bài hát cho phim truyền hình hay nhất với bài 'Tình thâm thâm vũ mông mông' trong phim 'Tân dòng sông li biệt'
Năm 2004
  • Giải thưởng âm nhạc phương Đông lần thứ 12: nghệ sĩ thể hiện trên sân khấu xuất sắc nhất
  • Giải thưởng âm nhạc Pepsi lần 5: nữ ca sĩ được yêu thích nhất từ Trung Hoa đại lục
  • Giải thưởng "Sự lựa chọn nhạc Pop của tôi" của hãng Sprite lần thứ 4: nghệ sĩ đa tài nhất, ca sĩ được yêu thích nhất
Năm 2005
  • Top âm nhạc Radio năm 2004: ca sĩ được yêu thích nhất
  • Giải thưởng mùa âm nhạc lần thứ nhất: Top 10 bài hát vàng cho bài hát 'Trí vô tận của Shakespear'
Năm 2006
  • Giải thưởng âm nhạc của Channel V: nghệ sĩ được yêu thích nhất
  • GIải thưởng âm nhạc phương Đông lần thứ 13: nghệ sĩ được yêu thích nhất
  • Giải thưởng top âm nhạc Radio 2005: Ca sĩ được yêu thích nhất từ Trung Hoa đại lục
  • Giải MTV châu Á lần thứ 5 năm 2006: nghệ sĩ được yêu thích nhất từ Trung Hoa đại lục

Các giải thưởng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1998
  • Top 10 nghệ sĩ nổi tiếng nhất trong làng giải trí truyền hình (Đài Loan)
Năm 2000
  • Top 10 nghệ sĩ phim điện ảnh và truyền hình nổi tiếng nhất

Tạp chí Times movies/TVs và cuộc khảo sát trên kênh âm nhạc MTV: ca sĩ được yêu thích nhất

  • Top 10 nghệ sĩ của năm
  • Thần tượng được yêu thích nhất ở Trung Quốc, Hongkong, Đài Loan
Năm 2001
  • Top 10 người mẫu đem lại doanh thu cao nhất (quảng cáo cho RedEarth và Amoisonic Mobile Phone)
  • Đứng thứ 2 trong Top 10 nữ hoàng quảng cáo của năm
Năm 2002
  • Giải thưởng Nghệ sĩ Trung Quốc cho sự nổi tiếng khắp cả nước trong lĩnh vực giải trí truyền hình
Năm 2003
  • Giải thưởng trẻ Lycra Channel: giải nghệ sĩ thời trangh nhất khu vực đại lục
  • Tại MTV-Trung Quốc: giải diễn viên phong cách nhất
  • Đứng thứ 3 trong top những người nổi tiếng nhất Trung Quốc của tạp chí Forbes.
Năm 2004
  • Giải thưởng Pierre Cardin.
  • Giải phong cách MTV: nữ nghệ sĩ đa tài nhất của năm
  • Tại giải thưởng của mạng giải trí Sina 2004: nhận giải Diễn viên nổi tiếng nhất
  • Đứng thứ 4 trong danh sách những người nổi tiếng nhất Trung Hoa của tạp chí Forbes.
Năm 2005
  • Đứng thứ 4 trong danh sách những người nổi tiếng nhất Trung Hoa của tạp chí Forbes.
  • Tại giải thưởng thời trang Trung Quốc(CFA): giải ca sĩ phong cách và diễn viên phong cách.
Năm 2006
  • Đứng thứ 4 trong danh sách những người nổi tiếng nhất Trung Hoa của tạp chí Forbes.
  • Trong danh sách 100 người đẹp nhất thế giới do tạp chí People của Mỹ bình chọn.
Năm 2007
  • Đứng thứ 2 trong danh sách người phụ nữ thành công nhất Trung Quốc, do mạng solu.com và tạp chí thời trang Bazzar bình chọn.
  • Tại buổi lễ vinh danh những tấm lòng vàng ủng hộ từ thiện tổ chức tại Thượng Hải đêm 11/3: nhận giải "Ngôi sao có tầm ảnh hưởng lớn nhất đối với hoạt động từ thiện".
Năm 2009
  • Nữ diễn viên được yêu thích nhất liên hoan phim sinh viên lần thứ 17

Các phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Thể loại Đạo diễn Vai diễn Giải thưởng
1994 Họa Hồn Điện ảnh Hoàng Thục Cần Cung nữ, vai phụ
1995 Nàng Phi Yến trong cung nhà Hán Truyền hình Dương Thi Quang Cung nữ, vai phụ
1996 Nữ Nhi Cốc Điện ảnh Tạ Tấn Y tá Đinh Tịnh Nhi, vai chính
1996 Đông cung Tây cung Điện ảnh Trương Nguyên Khách mời đặc biệt
1996 Chị em gái đến Bắc Kinh Truyền hình chưa có thông tin Bạch Tiểu Tuyết, vai chính
1997 Đại Ma Phương Truyền hình Dương Thi Quang Y tá, vai phụ
1997 Hoàn Châu cách cách Truyền hình Tôn Thụ Bồi Tiểu Yến Tử, vai chính
1998 Vua sư tử II: Niềm kiêu hãnh của Simba Hoạt hình lồng tiếng vai Kiara
1998 Hoàn Châu Cách Cách II Truyền hình Tôn Thụ Bồi, Lý Bình Tiểu Yến Tử, vai chính
1999 Cô em họ Cát Tường (hay Bí mật ngôi nhà cổ) Truyền hình Lại Kiến Quốc Cát Tường, vai chính
1999 Khang Hi vi hành II-Quế viên kí Truyền hình Trương Tử Ân Nhạc Thanh Nhi, vai phụ
1999 Duyên phận năm 2000 (hay Duyên, điều kì diệu) Điện ảnh Tào Kiến Nam Vicki, vai chính
2000 Hiệp Nữ náo thiên quan (hay Hiệp Nữ Phá Thiên Quan) Truyền hình Chu Diên Bình Mộc Kiếm Bình, Trần Tuệ Tâm (mẹ Lục Kiếm Bình)
2000 Quyết chiến trên đỉnh Tử Cấm Điện ảnh Lưu Vĩ Cường Công chúa Phi Phượng, vai chính
2001 Thiếu lâm túc cầu Điện ảnh Chu Tinh Trì, Trình Tiểu Đông Cô gái bán bánh A Mai, vai phụ
2000 Tân dòng sông ly biệt (hay Tình thâm thâm, yên vũ mông mông, Tình sâu đậm, mưa lất phất) Truyền hình Lý Bình tiểu thư Lục Y Bình
2002 Gác kiếm (hay Tịch dương thiên sứ) Điện ảnh Viên Hòa Bình Nữ sát thủ Ái Quần, vai chính
2002 Thiên hạ vô song Điện ảnh Lưu Trấn Vĩ Lương Tiểu Muội, vai phụ
2002 Trà xanh Điện ảnh Trương Nguyên Ngô Phương, Lang Lang, vai chính
2003 Chế tạo bạn gái Điện ảnh Hứa Vĩ Dân Trương Ninh, vai chính
2003 Ngọc Quan Âm Điện ảnh Hứa An Hoa An Tâm, vai chính
2004 Shrek II Hoạt hình Lồng tiếng công chúa
2004 Tình nhân kết Điện ảnh Hoắc Kiện Khởi Khuất Nhiên, vai chính
2004 Kinh hoa yên vân Truyền hình Trương Tử Ân Diêu Mộc Lan, vai chính
2005 Xa thần(Vua tốc độ) Truyền hình Du Đạt Trí Kiêu Tiêu, vai chính
2005 Cuộc sống hậu hiện tại của dì tôi Điện ảnh Hứa An Hoa Lưu Đại Phàm, vai phụ
2006 Cảm ơn anh từng yêu em Truyền hình Bác Đông Dục Phóng viên, biên tập viên Vũ Vy
2007 Đêm Thượng Hải Điện ảnh Trương Nhất Bạch Lâm Tịch, vai chính
2008 Xích Bích 1 Điện ảnh Ngô Vũ Sâm Tôn Thượng Hương
2008 Họa Bì Điện ảnh Trần Gia Thượng Bội Dung
2009 Đại chiến Xích Bích 2 Điện ảnh Ngô Vũ Sâm Tôn Thượng Hương
2009 Sử thi một người con gái Truyền hình Hạ Cương Điền Tô Phi
2009 Đại Nghiệp Kiến Quốc Điện ảnh Hàn Tam Bình & Hoàng Kiến Tân Nữ đại biểu hội nghị
2009 Hoa Mộc Lan Điện ảnh Mã Sở Thành Hoa Mộc Lan
2010 Cẩm Y Vệ Điện ảnh Lý Nhân Cảng Kiều Hoa, vai chính
2012 Yêu Điện ảnh Nữu Thừa Trạch Tiểu Diệp
2012 Họa Bì 2 Điện ảnh Ô Nhĩ Thiên Tịnh Công chúa, vai chính
2013 Gửi tuổi thanh xuân Điện ảnh Triệu Vy Đạo Diễn
2014 Con thân yêu Điện ảnh Triệu Vy

Album phòng thu đã phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1999: Tiểu Yến Tử (小燕子)
  • 1999: Ái Tình Đại Ma Chú (爱情大魔咒)
  • 2001: Tối Hậu Nhất Thứ Phân Thủ (最后一次分手)
  • 2004: Phiêu (飘)
  • 2005: Song (双)
  • 2007: Hành Trang Thiên Sứ (天使旅行箱)
  • 2009: Chúng ta đều là đạo diễn lớn (我们都是大导演)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “'Hoàn Châu cách cách' có Tiểu Yến Tử mới”. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2011. 
  2. ^ “Triệu Vy được ca ngợi là Angelina Jolie Châu Á”. aFamily. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2013. 
  3. ^ “Phim Triệu Vy đạo diễn thắng lớn ngày đầu ra mắt”. VnExpress Giải Trí. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2013. 
  4. ^ “Phim do Triệu Vy làm đạo diễn ăn khách”. Thể Thao & Văn Hóa. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]