Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
中華民國
Chung-hua Min-kuo

Trung Hoa Dân Quốc

1912–1949
 

 

 

Quốc kỳ Quốc huy
Quốc kỳ thông qua từ năm 1928. Quốc huy thông qua từ năm 1928
Quốc ca
Quốc ca Trung Hoa Dân Quốc
《中華民國國歌》
Vị trí của Trung Quốc
Vị trí của Trung Hoa Dân Quốc
  Tuyên bố chủ quyền lãnh thổ, kiểm soát thực tế khá mong manh
Thủ đô Nam Kinh (1912; 1927-1949)
Bắc Kinh (1912–1928)
Trùng Khánh (thủ đô thời chiến) (1937–1946)
Chính thể Nhà nước độc đảng, Độc tài quân sự, Thể chế Đại nghị
Tổng thống
 - 1912 Tôn Dật Tiên
 - 1912–1916 Viên Thế Khải
 - 1916–1917 Lê Nguyên Hồng
 - 1917–1918 Phùng Quốc Chương
 - 1918–1922 Từ Thế Xương
 - 1922–1923 Lê Nguyên Hồng
Lập pháp Quốc hội
 - Thượng viện Quốc hội
 - Hạ viện Lập pháp viện Trung Hoa Dân Quốc
Thời đại lịch sử Thế kỷ 20
 - Cách mạng Tân Hợi 10 tháng 10 năm 1911
 - Khởi đầu năm 1 tháng 1, 1912
 - Nationalist rule from Nanking 18 tháng 4 năm 1927
 - Chiến tranh Trung-Nhật 7 tháng 7 năm 1937
 - Hiến pháp được thông qua 25 tháng 12 năm 1947
 - Trận chiến Hoài Hải Tháng 12 năm 1948
 - Ghế chính phủ dời sang Đài Bắc 10 tháng 12, 1949
Diện tích
 - 1912 11.077.380 km²; (4.277.000 mi²)
Dân số
 - 1912 ước tính 432.375.000 
     Mật độ 39 /km²  (101,1 /mi²)
 - 1920 ước tính 472.000.000 
     Mật độ 42,6 /km²  (110,4 /mi²)
 - 1930 ước tính 489.000.000 
     Mật độ 44,1 /km²  (114,3 /mi²)
 - 1948 ước tính 489.000.000 
     Mật độ 44,1 /km²  (114,3 /mi²)
 - 1949 ước tính 541.670.000 
     Mật độ 48,9 /km²  (126,6 /mi²)
Tiền tệ Nguyên Trung Quốc
Cựu Đài tệ
Hiện nay là một phần của  Afghanistan
 Bhutan
 Burma
 Trung Quốc
 Ấn Độ
 Nhật Bản
 Mông Cổ
 Pakistan
 Nga
 Đài Loan
 Tajikistan
Dân số từ http://www.populstat.info/Asia/chinac.htm

Trung Hoa Dân Quốc (chữ Hán phồn thể: 中華民國; chữ Hán giản thể: 中华民国) được thành lập vào năm 1912 và nó quản lý đại lục Trung Quốc cho đến năm 1949, khi bị mất đại lục trong nội chiến Trung Quốc và rút về Đài Loan.[1] Như một thời kỳ của lịch sử Trung Quốc đại lục, nhà nước cộng hoà tiếp nối nhà Thanh và được kế thừa bởi Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Đại tổng thống lầm thời đầu tiên, Tôn Trung Sơn chỉ phục vụ một thời gian ngắn. Quốc Dân Đảng sau đó do Tống Giáo Nhân đứng đầu, giành chiến thắng trong một cuộc bầu cử Quốc hội tổ chức vào tháng 12 năm 1912. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo quân đội của phe Bắc Dương do Tổng thống Viên Thế Khải đứng đầu đã giữ quyền kiểm soát chính phủ trung ương. Sau cái chết của họ Viên vào năm 1916, quân phiệt địa phương đã khẳng định quyền tự chủ.

Năm 1925, Trung Quốc Quốc dân đảng thành lập một chính phủ đối lập gọi là Chính phủ Quốc dân Trung Hoa Dân Quốc ở khu phía nam của thành phố Quảng Châu (Canton).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Michael Dillon, of Chinese history (1979), trang 173.
Tiền nhiệm:
Nhà Thanh
Governing authority of Trung Quốc đại lục
1912–1949
Kế nhiệm:
Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa
Tiền nhiệm:
Nhà Thanh
Governing authority of Ngoại Mông
1919–1924
Kế nhiệm:
Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ
Tiền nhiệm:
Đế quốc Nhật Bản
Governing authority of Đài Loan
1945–
Kế nhiệm:
Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan)