Trung Hoa Dân Quốc
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Không nên nhầm với
| 中華民國 Jhonghuá Mínguó Trung Hoa Dân Quốc |
||||||
|---|---|---|---|---|---|---|
|
||||||
| Khẩu hiệu không có |
||||||
| Quốc ca Quốc ca Trung Hoa Dân Quốc |
||||||
| Thủ đô | Đài Bắc (de facto) Nam Kinh (de jure)1 |
|||||
| Thành phố lớn nhất | Đài Bắc | |||||
| Ngôn ngữ chính thức | Tiếng Quan Thoại (quốc ngữ) | |||||
| Chính phủ | Chế độ bán tổng thống | |||||
| - | Tổng thống Phó Tổng thống Thủ tướng |
Mã Anh Cửu Tiêu Vạn Trường Lưu Triệu Huyền |
||||
| Thành lập | ||||||
| - | - Tuyên bố - Thành lập - Rời sang Đài Loan |
|||||
| Diện tích | ||||||
| - | Tổng số | 35,980 km² (hạng 138) |
||||
| - | Nước (%) | 2,8% | ||||
| Dân số | ||||||
| - | Ước lượng tháng 7, 2006 | 23.036.087 (hạng 47 2) | ||||
| - | Mật độ | 640 /km² (hạng 14 2) |
||||
| GDP (PPP) | Ước tính 2005 | |||||
| - | Tổng số | $631,2 tỉ tỷ đô la Mỹ (hạng 16) | ||||
| - | Theo đầu người | $27.572 đô la Mỹ (hạng 24) | ||||
| HDI (2003) | 0,910 (cao) (hạng 25 nếu xếp hạng 3) | |||||
| Đơn vị tiền tệ | Tân Đài tệ (NT$) (TWD) |
|||||
| Múi giờ | CST (UTC+8) | |||||
| Tên miền Internet | .tw | |||||
| Mã số điện thoại | +886 | |||||
| 1. Dưới thời Quốc Dân Đảng Trung Quốc, Nam Kinh được coi là thủ đô chính thức trong các bản đồ và văn bản của chính quyền trong khi Đài Bắc chỉ là thủ đô lâm thời. Đảng Dân Tiến cầm quyền hiện nay đã bỏ quy ước đó. 2. Xếp hạng dựa trên số liệu năm 2005. 3. Do vị thế chính trị của nó, LHQ đã không tính chỉ số phát triển con người cho THDQ. Tuy nhiên, chính quyền THDQ đã tỉnh chỉ số này vào khoảng 0,910 vào năm 2003; nếu được LHQ tính, THDQ sẽ xếp hạng 25 (cao) – sau Hy Lạp và trước Singapore. [2] |
||||||
Trung Hoa Dân Quốc (phồn thể: 中華民國; giản thể: 中华民国; bính âm Hán ngữ: Zhōnghuá Mínguó; bính âm thông dụng: Jhonghuá Mínguó; Wade-Giles: Chung-hua Min-kuo) là một Quốc gia thuộc Đông Á. Lãnh thổ của nó đã từng bao trùm toàn cõi Trung Quốc, sau lệnh ngưng bắn tạm thời trong cuộc Nội chiến Trung Quốc, vào năm 1949 phe cộng sản đã nắm quyền kiểm soát Trung Hoa đại lục, hiện Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) chỉ quản lý các đảo Đài Loan (Formosa), Bành Hồ, Kim Môn và Mã Tổ. Kể từ cuối những năm 1990, Trung Hoa Dân Quốc thường được gọi là "Đài Loan" (台灣), và kể từ cuối những năm 1970 tên "Trung Quốc" đã được sử dụng nhiều hơn để chỉ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại đại lục Trung Quốc. Vì những lý do chính trị, Trung Hoa Dân Quốc đôi khi còn được các tổ chức quốc tế gọi là "Trung Hoa Đài Bắc" (中華台北).
Trung Hoa Dân Quốc được thành lập vào năm 1912, thay thế nhà Thanh, triều đại cuối cùng của Trung Quốc, và kết thúc trên 2.000 năm chế độ phong kiến. Do đó nó là nền cộng hòa tồn tại lâu đời nhất tại Đông Á. Trong lúc chế độ này cầm quyền tại Trung Hoa đại lục, Trung Quốc đã bị nhiều thế lực tranh giành quyền lực, bị Nhật Bản xâm chiếm, và cuối cùng lao vào một cuộc nội chiến. Cuộc nội chiến này tạm kết thúc năm 1949, khi Đảng Cộng sản Trung Quốc kiểm soát gần toàn bộ Trung Hoa đại lục trong khi chính quyền Trung Hoa Dân quốc kiểm soát đảo Đài Loan và một số đảo khác. Đảng Cộng sản Trung Quốc tuyên bố thành lập một quốc gia mới, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh năm 1949. Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan tiếp tục cho rằng nó là chính phủ chính thống của toàn bộ Trung Quốc. Việc này đã được hầu hết các nước trên thế giới công nhận cho đến cuối thập niên 1970. Đài Bắc được chọn làm thủ đô lâm thời.
Mục lục |
[sửa] Vị thế chính trị
Vị thế chính trị Đài Loan là một vấn đề gây tranh cãi. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố rằng chính phủ Trung Hoa Dân Quốc là bất hợp pháp, và gọi họ là "Chính quyền Đài Loan". Tuyên bố này bị Trung Hoa Dân Quốc bác bỏ bởi họ tự coi mình là một quốc gia độc lập có chủ quyền.[1] Ban đầu Quốc Dân Đảng nắm quyền ở Trung Hoa Dân Quốc tự tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn Trung Hoa, dù hiện tại đa số người dân Đài Loan đã từ bỏ quan điểm đó. Dù Trung Hoa Dân Quốc hiện dưới quyền lãnh đạo của vị Tổng thống ủng hộ độc lập Trần Thủy Biển thực tế chưa bao giờ tái tuyên bố chủ quyền với toàn bộ Trung Hoa nhưng các biên giới quốc gia của Trung Hoa Dân Quốc cũng chưa được vẽ lại và những tuyên bố lãnh thổ còn chưa giải quyết xong từ cuối thập niên 1940 cũng chưa được xem xét lại. Vì thế, các biên giới theo tuyên bố của Trung Hoa Dân Quốc tiếp tục bao gồm cả Lục địa Trung Quốc, nhiều hòn đảo ngoài khơi, Đài Loan, Ngoại Mông, bắc Myanmar, và Tuva (hiện là lãnh thổ Nga). Tuy nhiên, trong tình thế chính trị hiện nay quan điểm này đã bị coi là lỗi thời và hiếm khi được đề cập.
Không khí chính trị khá căng thẳng với khả năng xảy ra xung đột quân sự trong trường hợp Đài Loan có các hoạt động theo hướng độc lập hay hành động thống nhất. Chính sách của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là sử dụng vũ lực để đảm bảo việc thống nhất nếu quá trình thống nhất trong hòa bình không thể diễn ra, như đã được tuyên bố trong luật chống chia rẽ, và vì lý do này các căn cứ quân sự của Trung Quốc luôn hiện diện trên bờ biển Phúc Kiến.[2] Hoa Kỳ đã huấn luyện quân sự và bán vũ khí cho Trung Hoa Dân Quốc.[3] Tuy nhiên, tình thế giữ nguyên trạng hiện tại, như theo định nghĩa của Hoa Kỳ, được ủng hộ dựa trên cơ sở sự quid pro quo ("để ý lẫn nhau") giữa hai nước Trung Quốc. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được cho là sẽ "không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực chống lại Đài Loan" và Trung Hoa Dân Quốc sẽ "có sự cẩn trọng trong việc điều phối mọi khía cạnh của các quan hệ xuyên eo biển." Cả hai sẽ kiềm chế tiến hành các hoạt động hay đưa ra những tuyên bố "có thể đơn phương làm thay đổi vị thế Đài Loan."[4]
Bên trong Trung Hoa Dân Quốc, các ý kiến khác biệt giữa những người ủng hộ thống nhất, đại diện là các đảng thuộc Liên minh Toàn Lam, và những người ủng hộ độc lập, đại diện là các đảng thuộc Liên minh Toàn Lục. Quốc Dân Đảng, Đảng lớn nhất trong Liên minh Toàn Lam, ủng hộ việc giữ nguyên trạng trong tương lai không xác định với mục tiêu được tuyên bố duy nhất là thống nhất. Tuy nhiên, họ không ủng hộ việc thống nhất với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong tương lai gần, bởi một viễn cảnh như vậy sẽ là không thể chấp nhận được với các thành viên của họ và với những người dân. Mã Anh Cửu, cựu chủ tịch Quốc dân Đảng và là người có triển vọng chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2008, đã đặt ra tiêu chuẩn về mức độ dân chủ, phát triển kinh tế ở gần mức của Trung Hoa Dân Quốc để lục địa đạt tới trước khi việc thống nhất diễn ra. Đảng Dân chủ Tiến bộ (DPP), đảng lớn nhất trong liên minh Toàn Lục, cũng ủng hộ việc giữ nguyên trạng bởi nguy cơ chọc giận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là không thể chấp nhận đối với các thành viên của họ. Tuy nhiên, Tổng thống Trần Thủy Biển của ĐDT đã nói rằng dù thế nào chăng nữa, bất kỳ quyết định nào phải được đưa ra thông qua trưng cầu dân ý trước nhân dân Trung Hoa Dân Quốc. Chính sách đối ngoại của cả hai liên minh hiện tại đều ủng hộ việc tham gia của Trung Hoa Dân Quốc vào các tổ chức quốc tế, nhưng Quốc Dân Đảng chấp nhận nguyên tắc "Một Trung Quốc" và DPP khuyến khích các mối quan hệ kinh tế với các nước khác trừ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vì các lý do an ninh.
Về phần mình, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dường như coi việc giữ lại cái tên "Trung Hoa Dân Quốc" còn dễ chịu hơn nhiều so với việc tuyên bố một nước Cộng hòa Đài Loan độc lập về pháp lý. Tuy nhiên, với sự trỗi dây của phong trào ủng hộ độc lập tại Đài Loan, cái tên "Đài Loan" đã ngày càng được sử dụng nhiều trên chính hòn đảo này. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tuyên bố rằng bất kỳ một nỗ lực nào tại Đài Loan nhằm chính thức xóa bỏ chế độ Trung Hoa Dân Quốc và thay thế nó bằng một nước Cộng hòa Đài Loan sẽ dẫn tới nguy cơ đáp trả bằng biện pháp quân sự mạnh mẽ. Quan điểm hiện tại của Hoa Kỳ là vấn đề Đài Loan phải được giải quyết một cách hòa bình và hành động đơn phương của bất kỳ bên nào sẽ bị lên án; cả việc vô cơ tấn công của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hay một tuyên bố độc lập từ phía Đài Loan đều không thể chấp nhập.[5]
Vì chính sách Một Trung Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa yêu cầu các nước không chính thức công nhận Trung Hoa Dân Quốc như một điều kiện để duy trì các quan hệ ngoại giao với họ. Chỉ có 24 quốc gia có quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Hoa Dân Quốc. Tuy nhiên, đa số các nước đều có văn phòng đại diện không chính thức tại Trung Hoa Dân Quốc. Hoa Kỳ vẫn giữ quan hệ không chính thức với Trung Hoa Dân Quốc thông qua Viện Hoa Kỳ tại Đài Loan.[6] Trên thực tế Trung Hoa Dân Quốc cũng giữ các đại sứ quán và lãnh sự quán ở hầu hết các nước, được gọi là các "Văn phòng Đại diện Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc" (TECRO), với các văn phòng chi nhánh được gọi là "Văn phòng Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc" (TECO). Cả TECRO và TECO đều là "các thực thể thương mại không chính thức" của Cộng hòa Đài Loan chịu trách nhiệm duy trì quan hệ ngoại giao, cung cấp các dịch vụ lãnh sự (như cấp Visa), và bảo vệ các lợi ích quốc gia của Trung Hoa Dân Quốc tại các nước khác trên cơ sở căn bản như Đại sứ quán hay Lãnh sự quán.[7]
Cũng vì việc áp dụng chính sách Một Trung Quốc của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân Quốc chỉ có thể tham gia vào các tổ chức quốc tế nơi họ không được công nhận như một quốc gia độc lập có chủ quyền. Năm 1945, Trung Hoa Dân Quốc có tư cách đại diện cho toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và họ là một trong những quốc gia sáng lập cũng như là thành viên Hội đồng Bảo an, của Liên hiệp quốc; tuy nhiên, năm 1971, với việc thông qua Nghị quyết 2758 Đại hội đồng Liên hiệp quốc, nó bị Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thay thế. Kể từ năm 1992, Trung Hoa Dân Quốc luôn lặp lại đề nghị được gia nhập Liên hiệp quốc nhưng chưa hề thành công. Đa số quốc gia thành viên, gồm cả Hoa Kỳ, không muốn bàn thảo vấn đề vị thế chính trị Trung Hoa Dân Quốc vì sợ gây trở ngại tới những quan hệ ngoại giao với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Tuy nhiên, cả Hoa Kỳ và Nhật Bản đều công khai ủng hộ việc Trung Hoa Dân Quốc xin trở thành quan sát viên của Tổ chức Y tế Thế giới.[8] Tuy nhiên, dù Trung Hoa Dân Quốc hàng năm đều đệ trình hồ sơ xin làm thành viên của WHO từ năm 1997 dưới nhiều tên gọi, những nỗ lực của họ luôn bị Trung Quốc cản trở. Tương tự, Trung Hoa Dân Quốc chịu áp lực phải sử dụng cái tên trung lập về chính trị là "Đài Bắc Trung Quốc" trong các sự kiện quốc tế như Olympics, khi Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa cũng tham gia. Trung Hoa Dân Quốc nói chung bị ngăn cản sử dụng quốc ca và lá cờ của mình tại các sự kiện quốc tế vì áp lực của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và những thành viên đoàn Trung Hoa Dân Quốc tham gia vào các sự kiện đó như Olympics thường bị ngăn cản mang theo cờ Trung Hoa Dân Quốc vào những địa điểm tổ chức sự kiện Olympics.[9] Trung Hoa Dân Quốc có thể tham gia với tên gọi "Trung Quốc" tại các tổ chức nơi Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa không tham dự, như Tổ chức Phong trào Hướng đạo Thế giới.
Quan hệ với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và những vấn đề liên quan về độc lập của Đài Loan và sự thống nhất với Trung Quốc vẫn tiếp tục là vấn đề thống trị trong chính trị Trung Hoa Dân Quốc.[10] Về bất kỳ một giải pháp riêng biệt nào ý kiến của công chúng thay đổi rất nhiều khi câu chữ chỉ thay đổi một chút, việc này phản ánh sự phức tạp của ý kiến công chúng với chủ đề này.[11]
[sửa] Lịch sử
[sửa] 1911–27
Năm 1911, sau hơn hai nghìn năm dưới quyền lãnh đạo của các hoàng đế, Trung Quốc lật đổ hệ thống chính trị triều đại và chuyển sang một nền cộng hoà. Nhà Thanh đã suy yếu, Trung Quốc vừa trải qua một thế kỷ bất ổn định, cả với những cuộc nổi dậy bên trong cùng với chủ nghĩa đế quốc từ bên ngoài. Các nguyên tắc Tân Khổng giáo, cho tới thời điểm đó, đã duy trì hệ thống triều đại bị nghi ngờ và sự biến mất của lòng tin cá nhân bị cho là nguyên nhân khiến tới 40 triệu người Trung Quốc sử dụng thuốc phiện năm 1900 (khoảng 10% dân số[12]). Tới khi bị các lực lượng viễn chinh của các cường quốc trên thế giới thời ấy đánh bại trong cuộc đàn áp Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn, nhà Thanh đã gần như chính thức chấm dứt, vì không có chế độ khác thay thế nên sự tồn tại của nó vẫn được tính kéo dài tới tận năm 1912.[13]
Việc thành lập nền Cộng hòa Trung Quốc đã phát triển ngoài dự kiến, cuộc Khởi nghĩa Vũ Xương chống lại nhà Thanh xảy ra vào ngày 10 tháng 10 năm 1911. Trung Hoa Dân Quốc được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1912, với tiến sĩ Tôn Dật Tiên là Tổng thống lâm thời. Như một phần trong thỏa thuận để đổi lấy sự thoái vị của hoàng đế cuối cùng Phổ Nghi, Viên Thế Khải chính thức được bầu làm tổng thống năm 1913. Tuy nhiên, Viên Thế Khải đã giải tán Quốc Dân Đảng cầm quyền, bỏ qua Hiến pháp lâm thời khi gia tăng quyền lực cho tổng thống, và cuối cùng tự tuyên bố mình là Hoàng đế Trung Quốc vào năm 1915.
Những người ủng hộ Viên Thế Khải đã bỏ rơi ông, và nhiều tỉnh tuyên bố độc lập và trở thành các tiểu quốc dưới quyền của các vị lãnh chúa. Viên Thế Khải chết vì các lý do tự nhiên năm 1916. Sự kiện này đẩy Trung Quốc vào một thập kỷ của thời kỳ quân phiệt. Tôn Dật Tiên, vốn đã bị ép rời đất nước, quay trở về tỉnh Quảng Đông với sự trợ giúp của các lãnh chúa phương nam năm 1917 và 1920, và lập nên nhiều chính phủ đối lập. Tôn Dật Tiên tái lập Quốc Dân Đảng tháng 10 năm 1919.
Chính quyền trung ương tại Bắc Kinh tìm cách thâu tóm quyền lực. Và một cuộc tranh cãi mở và rộng lớn về cách thức đối xử của Trung Quốc với người phương Tây diễn ra. Sau Hiệp ước Versailles, ngày 4 tháng 5, một cuộc biểu tình của sinh viên đã dẫn tới cuộc khởi nghĩa trên khắp nước khiến nó được đặt tên là Phong trào Ngũ Tứ.
Chủ nghĩa vô chính phủ Trung Quốc, đặc biệt là chủ nghĩa vô chính phủ cộng sản, từng là một trong những hình thức thường thấy nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa thậm chí cả trước cuộc Khởi nghĩa Vũ Xương. Sau cuộc Cách mạng Nga năm 1917, ảnh hưởng của Chủ nghĩa Mác lan tràn và trở nên quen thuộc với quần chúng. Li Dazhao và Trần Độc Tú lãnh đạo buổi đầu phong trào Mác xít Lêninít. Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập tháng 7 năm 1921.
[sửa] 1927–49
Sau cái chết của Tôn Dật Tiên tháng 3 năm 1925, Tưởng Giới Thạch trở thành lãnh đạo Quốc Dân Đảng. Tưởng Giới Thạch đã lãnh đạo thành công cuộc Bắc Tiến, với sự giúp đỡ của Liên bang Xô viết, đánh bại các lãnh chúa phía bắc và về danh nghĩa đã thống nhất Trung Quốc dưới quyền Quốc Dân Đảng. Các cố vấn Xô viết giúp huấn luyện, tuyên truyền, kích động quần chúng, và cung cấp vũ khí. Tuy nhiên, Tưởng Giới Thạch nhanh chóng trục xuất các cố vấn Xô viết, thanh trừng những người cộng sản và cánh tả trong Quốc Dân Đảng, dẫn tới cuộc Nội chiến Trung Quốc. Những người cộng sản bị đẩy vào nội địa khi Tưởng Giới Thạch tìm cách tiêu diệt họ. Tưởng Giới Thạch củng cố quyền lực, thành lập Chính phủ Quốc gia tại Nam Kinh năm 1928. Nhiều nỗ lực đã được tiến hành nhằm xây dựng một xã hội dân sự hiện đại, qua việc thành lập Academia Sinica (Viện nghiên cứu trung ương Trung Quốc), Ngân hàng Trung Quốc, và các cơ quan khác.
Sự ổn định chấm dứt với Cuộc xâm lược của Nhật Bản vào Mãn Châu năm 1931, tình trạng thù địch tiếp tục kéo dài suốt cuộc Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai, một phần của Thế chiến II từ 1937 tới 1945. Năm 1945, Nhật Bản đầu hàng và Trung Hoa Dân Quốc trở thành một trong những thành viên sáng lập của Liên hiệp quốc.
Cuộc nội chiến Trung Quốc giữa những người Cộng sản và Quốc gia tiếp tục và rất ác liệt. Dù nắm giữ nhiều ưu thế cộng với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, phe Quốc gia đã thua cuộc trước phe Cộng sản năm 1949.
[sửa] 1945 đến nay
Sau thất bại của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, quân đội Trung Hoa Dân Quốc chấp nhận sự đầu hàng của quân đồn trú Nhật tại đây. Đài Loan được tuyên bố "nhượng lại" cho Trung Hoa Dân Quốc ngày 25 tháng 10 năm 1945, dù những đề xuất về Đài Loan độc lập đặt vấn đề về tính pháp lý của tuyên bố đó, cho rằng tuyên bố được đưa ra mà không có một hiệp ước hòa bình chính thức chuyển giao chủ quyền. Trung Hoa Dân Quốc bắt đầu cai quản Đài Loan với một bộ máy quản lý quân sự tham nhũng, dẫn tới tình trạng bất ổn khắp nơi và căng thẳng gia tăng giữa người Đài Loan và người lục địa.[14] Vụ bắt giữ một người bán thuốc lá và bắn vào một người gần đó ngày 28 tháng 2 năm 1947 đã châm ngòi cho một cuộc bạo loạn trên toàn bộ hòn đảo, cuộc bạo loạn đã bị đàn áp bằng vũ lực và hiện được gọi là Vụ 228. Những con số ước tính thường cho rằng số người thương vong trong khoảng 10.000 tới 30.000 người, chủ yếu thuộc giới tinh hoa của Đài Loan. Năm 1948 Chính quyền tuyên bố thiết quân luật.[15]
Sau khi Quốc Dân Đảng bị đánh bại năm 1949, Tưởng Giới Thạch dời chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tới Đài Loan và tuyên bố Đài Bắc là Thủ đô lâm thời của Trung Quốc. Theo cùng cuộc rút lui của ông là hai triệu người tị nạn từ lục địa Trung Quốc, thêm vào với dân số khoảng sáu triệu người đã sống ở hòn đảo trước đó.[16]
Ban đầu, Hoa Kỳ bỏ rơi Quốc Dân Đảng và chờ đợi việc Đài Loan rơi vào tay những người Cộng sản. Tuy nhiên, năm 1950 cuộc xung đột giữa Bắc và Nam Triều Tiên, đã bắt đầu xảy ra từ khi quân Nhật rút đi năm 1945, leo thang thành một cuộc chiến tranh toàn diện, và trong bối cảnh Chiến tranh lạnh, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman một lần nữa can thiệp và phái Hạm đội 7 tới Eo biển Đài Loan để "trung lập hoá" eo biển.[17] Theo Hiệp ước Hòa bình San Francisco, bắt đầu có hiệu lực ngày 28 tháng 4 năm 1952, và Hiệp ước Đài Bắc, bắt đầu có hiệu lực ngày 5 tháng 8 năm 1952, Nhật Bản chính thức rút bỏ mọi quyền, yêu sách và danh nghĩa với Formosa (Đài Loan) và Pescadores (Bành Hồ), và rút bỏ mọi hiệp ước đã ký với Trung Quốc trước năm 1942. Cả hai hiệp ước đều không đề cập tới việc ai sẽ là người nắm quyền kiểm soát hòn đảo, một phần để tránh liên can vào cuộc Nội chiến Trung Quốc. Những người ủng hộ Đài Loan độc lập đã sử dụng sự thiếu sót này để đặt nghi vấn về tuyên bố của cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc về Đài Loan, cho rằng tương lai của Đài Loan phải do người dân tại đây tự quyết.
Trong thập niên 1960 và 1970, Trung Hoa Dân Quốc bắt đầu phát triển trở thành một nước phát triển công nghiệp hoá kỹ thuật cao, trong khi vẫn duy trì một chính phủ độc tài, độc đảng. Vì cuộc Chiến tranh lạnh, đa số các quốc gia phương Tây và Liên hiệp quốc vẫn coi Trung Hoa Dân Quốc là chính phủ đại diện hợp pháp duy nhất của Trung Quốc cho tới tận thập niên 1970, khi đa số các nước lại quay sang công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
[sửa] Chính phủ
[sửa] Trung Hoa Dân Quốc
Chính phủ quốc gia đầu tiên của Trung Hoa Dân theo chế độ cộng hòa được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1912, tại Nam Kinh với Tôn Dật Tiên là tổng thống lâm thời. Đại biểu các tỉnh được gửi tới để xác nhận quyền lực của chính phủ quốc gia, và sau này họ cũng tham gia thành lập nên nghị viện đầu tiên. Chính phủ quốc gia này vừa ít quyền lực vừa tồn tại ngắn ngủi bởi các vị tướng lĩnh kiểm soát cả các các tỉnh trung tâm và miền bắc Trung Quốc. Số lượng hạn chế các đạo luật do chính phủ này thông qua gồm nghi thức chấp nhận thoái vị của nhà Thanh và một số sáng kiến kinh tế.
Một thời gian ngắn sau khi Viên Thế Khải nổi lên, quyền lực của nghị viện chỉ còn là hình thức; nhiều hành động vi phạm hiến pháp của Viên Thể Khải chỉ gặp phải những phản đối mang tính hình thức, và các thành viên Quốc Dân Đảng trong nghị viện sẽ nhận được 1.000 bảng nếu họ từ bỏ đảng tịch. Viên Thế Khải vẫn giữ quyền lực tại địa phương bằng cách gửi các vị tướng tới giữ chức thống đốc các tỉnh hay giữ liên minh với những người đang nắm giữ các chức đó. Các cường quốc nước ngoài cũng bắt đầu công nhận quyền lực của Viên Thế Khải: khi Nhật Bản tới Trung Quốc với 21 yêu cầu, chính Viên Thế Khải là người xem xét chúng ngày 25 tháng 5 năm 1915.
Khi Viên Thế Khải chết, nghị viện năm 1913 được triệu tập lại để công nhận tính pháp lý cho một chính phủ mới. Tuy nhiên, quyền lực thật sự khi ấy được chuyển vào tay các lãnh đạo quân sự, tạo thành giai đoạn của các lãnh chúa. Chính phủ không quyền lực vẫn hữu dụng; khi Thế chiến thứ nhất bắt đầu, nhiều cường quốc phương Tây và Nhật Bản đã muốn Trung Quốc tuyên chiến với Đức, để chia nhau những tài sản của Đức.
[sửa] Hiện tại
Nguyên thủ quốc gia và tổng tư lệnh là Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, người được bầu phổ thông dân chủ với nhiệm kỳ bốn năm cùng Phó tổng thống. Tổng thống có quyền đối với năm nhánh hành chính (Viện): Viện kiểm tra, Viện thẩm tra, Viện hành pháp, Viện tư pháp và Viện lập pháp. Tổng thống chỉ định các thành viên của Viện hành pháp vào nội các của mình, gồm cả một Thủ tướng, người chính thức là Chủ tịch Hành pháp viện; các thành viên chịu trách nhiệm về mặt chính sách và hành chính.
Cơ quan lập pháp chính là Lập pháp Viện theo chế độ đơn viện với hai trăm hai mươi lăm ghế. Một trăm sáu mươi tám ghế được bầu theo hình thức phổ thống đầu phiếu; bốn mươi mốt ghế được chọn dựa trên tỷ lệ phiếu toàn quốc của các đảng chính trị. Tám ghế cho các khu vực bầu cử ngoài nước và tám ghế dành cho người bản xứ dựa trên cùng tiêu chí. Các thành viên Lập pháp viện làm việc với nhiệm kỳ ba năm. Tiền thân Quốc hội đơn viện là hội nghị hiến pháp và đoàn bầu cử thường trực, giữ một số chức năng nghị viện, nhưng Quốc hội đã bị xóa bỏ năm 2005 và quyền lập hiến được trao cho Lập pháp viện cùng tất cả các cử tri của nhà nước Cộng hòa thông qua trưng cầu dân ý.
Tư pháp viện là cơ quan tư pháp cấp cao nhất của Đài Loan. Cơ quan này có trách nhiệm giải thích hiện pháp, các luật và các nghị định, phán quyết các vụ việc hành chính, và các hoạt động công cộng. Chủ tịch và Phó chủ tịch Lập pháp viện cùng mười lăm Thẩm phán hình thành nên Hội đồng Đại Thẩm phán. Họ được giới thiệu và chỉ định bởi Tổng thống nhà nước Cộng hoà, với sự ưng thuật của Lập pháp viện. Tòa án cấp cao nhất, Tòa án Tối cao, gồm một số nhóm dân sự và hình sự, mỗi nhóm gồm một Thẩm phán chủ tịch và bốn Thẩm phán cấp dưới, tất cả đều được chỉ định để làm việc suốt đời. Năm 1993, một tòa án hiến pháp độc lập được thành lập để giải quyết các tranh cãi hiến pháp, giám sát các hoạt động của các đảng chính trị và tăng tốc quá trình dân chủ hoá. Trong hệ thống tòa án Trung Hoa Dân Quốc không có bồi thẩm đoàn nhưng quyền được xét xử đúng luật được pháp luật bảo hộ và được tôn trọng trên thực tế; nhiều vụ việc đã được nhiều thẩm phán cùng tham gia xét xử.
Hệ thống chính trị Trung Hoa Dân Quốc không đi theo các mô hình truyền thống. Thủ tướng được Chính phủ lựa chọn mà không cần có sự đồng thuật từ nhánh Lập pháp, nhưng nhánh Lập pháp có thể thông qua luật mà cả Tổng thống và Thủ tướng đều không có quyền phủ quyết. Vì thế, Tổng thống và nhánh Lập pháp ít khi muốn đàm phán với nhau về việc làm luật nếu họ thuộc hai phe chính trị đối lập. Trên thực tế, kể từ khi vị Tổng thống thuộc Liên minh Pan Green Trần Thủy Biển lên nắm quyền năm 2000 và việc Liên minh Pan Blue tiếp tục nắm đa số tại Lập pháp viện, tiến trình lập pháp liên tục bị đình trệ, bởi hai bên đều không nhượng bộ. Một điểm đáng chú ý khác trong hệ thống chính trị Trung Hoa Dân Quốc; vì trước kia nước này nằm dưới sự lãnh đạo của một đảng chính trị ưu thế, quyền lực thực sự của hệ thống chuyển từ chức vụ này tới chức vụ khác, phụ thuộc vào việc vị lãnh đạo quốc gia khi ấy nắm chức gì. Di sản này khiến quyền hành pháp hiện tại tập trung chủ yếu trong văn phòng Tổng thống chứ không phải Thủ tướng.
Thuật ngữ đảng cầm quyền trước kia được gán cho Quốc Dân Đảng, bởi đây là đảng độc tài từng kiểm soát mọi bộ phận chính phủ (đảng cầm quyền cũng có thể được áp dụng gọi đảng chiếm đa số trong hệ thống nghị viện). Người Xô viết, những người từng huấn luyện cho Tưởng Giới Thạch, Quốc Dân Đảng và những người Cộng sản, đã để lại một dấu ấn trong hoạt động của Quốc Dân Đảng, và một phong cách nhà nước độc đảng Lêninít, có ít khác biệt giữa chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, Quốc Dân Đảng và quân đội. Tuy nhiên, ngày nay thuật ngữ "đảng cầm quyền" đã được sử dụng rõ ràng, riêng biệt tại Đài Loan và được dùng để gọi đảng đang nắm quyền Tổng thống. Điều này không hoàn toàn chính xác bởi Đài Loan không có một hệ thống nghị viện, theo đó nhánh hành pháp do cùng đảng hay liên minh nắm đa số trong nhánh lập pháp nắm giữ. Thuật ngữ này hiện được sử dụng bởi Thủ tướng do Tổng thống chỉ định, vì thế quyền hành pháp thường do đảng của Tổng thống chi phối.
[sửa] Phân chia hành chính
Theo Hiến pháp năm 1947, được soạn thảo trước khi chính phủ Trung Hoa Dân Quốc rút lui tới Đài Loan, mức độ phân chia hành chính cao nhất là tỉnh, gồm các vùng hành chính đặc biệt, các vùng, và thành phố thuộc trung ương quản lý. Tuy nhiên, năm 1998 chính phủ cấp tỉnh duy nhất còn hoàn toàn nằm dưới quyền tài phán của Trung Hoa Dân Quốc, Tỉnh Đài Loan, đã được tổ chức lại, với hầu hết quyền hạn do chính phủ trung ương nắm và các cơ quan chính phủ cấp tỉnh (một chính phủ cấp tỉnh khác hiện tại là Fuchien, cũng đã được tổ chức lại từ trước đó). Hiện tại Trung Hoa Dân Quốc nắm quyền điều hành hai tỉnh và hai thành phố cấp tỉnh.
- Tỉnh Đài Loan: hòn đảo chính, ngoại trừ hai thành phố, cộng thêm huyện Bành Hồ (Quần đảo Bành Hồ)
- Mười sáu huyện
- Năm thành phố cấp tỉnh ("tỉnh hạt thị" hay "tỉnh quản thị")
- Tỉnh Phúc Kiến: nhiều hòn đảo ngoài khơi Trung Hoa lục địa
- Huyện Kim Môn: bao gồm các hương Kim Môn, Hạ Kim Môn, Ô Khâu
- một phần huyện Liên Giang, bao gồm các hương Mã Tổ, Đông Dẫn, Nam Can, Bắc Can và Cử Quang
- Hai trực hạt thị
Trung Hoa Dân Quốc cũng kiểm soát Quần đảo Đông Sa và Đảo Thái Bình (Việt Nam gọi là đảo Ba Bình), là một phần của Quần đảo Trường Sa đang ở tình trạng tranh chấp. Chúng được đặt dưới quyền quản lý của Thành phố Cao Hùng sau khi Quốc Dân Đảng rút về Đài Loan.[18]
Đài Trung hiện được xem xét nâng lên mức thành phố thực thuộc trung ương. Tương tự, huyện Đài Bắc và Cao Hùng đang được xem xét sáp nhập với thành phố Đài Bắc và Cao Hùng.
Theo hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc vẫn chưa từ bỏ chủ quyền đối với Trung Hoa Lục địa và Ngoại Mông, nhưng vào năm 1991 Tổng thống Lý Tường Huy đã thông báo rằng chính phủ của ông không tranh cãi sự thực rằng Đảng Cộng sản đang nắm quyền tại Trung Hoa Lục địa. Trên thực tế, các công dân Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được coi như những người nước ngoài ở một số khía cạnh; ví dụ, họ bị yêu cầu phải xin visa của Trung Hoa Dân Quốc khi muốn vào lãnh thổ nước này. Chính phủ của đảng Dân Tiến do Tổng thống Trần Thủy Biển lãnh đạo đã thiết lập một đại sứ quán không chính thức tại thủ đô Mông Cổ, Ulan Bator. Các văn phòng cũng đã được thiết lập với chức năng quản lý các vùng đó, như Cao ủy các Vấn đề Tây Tạng và Mông Cổ[19], nhưng không hoạt động.[20]
Các biên giới chính thức của Trung Hoa Dân Quốc vẫn bao gồm ba mươi nhăm tỉnh, mười bốn thành phố và một đặc khu hành chính cùng hai vùng, chứ không phải hai mươi ba tỉnh, bốn thành phố, hai đặc khu hành chính và năm vùng tự trị như trên bản đồ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Chính phủ đảng Dân Tiến cầm quyền đã bỏ quy định buộc những người làm bản đồ Trung Hoa Dân Quốc phải thể hiện các lãnh thổ chính thức.
[sửa] Chính trị
[sửa] 1911–49
Ban đầu nhà nước Cộng hòa được thành lập dựa trên ba nguyên tắc của nhân dân (Tam dân nguyện (san min zhuyi)): Quốc gia, Dân Chủ, và Sinh kế của người dân (cũng được dịch là "Xã hội"). "Quốc gia" có nghĩa đứng lên chống lại sự can thiệp của Nhật Bản và các quốc gia Châu Âu, "dân chủ" đại diện cho mô hình quản lý qua bầu cử theo hình thức nghị viện của Nhật Bản, và "sinh kế của người dân" có nghĩa chính phủ quản lý các phương tiện sản xuất. Một nguyên tắc phụ trợ khác là "Năm giống nòi dưới một liên minh" (五族共和), nhấn mạnh sự hài hòa của năm nhóm sắc tộc chính Trung Quốc (Hán, Mãn Châu, Mông Cổ, Tây Tạng, và Duy Ngô Nhĩ), đại diện bởi các dải màu trên lá Cờ năm màu của nhà nước Cộng hoà. Nguyên tắc năm giống nòi dưới một liên minh và lá cờ năm màu đã bị hủy bỏ năm 1927.
Tam dân nguyện không được thực hiện. Trung Hoa Dân Quốc rơi vào vòng xoáy của các lãnh chúa, các cuộc xâm lược nước ngoài và nội chiến. Các cơ quan lập pháp đã được bầu ra, nhưng Trung Hoa Dân Quốc hầu như vẫn là một nhà nước độc tài một đảng,[21] với một số đảng nhỏ, như Đảng Thanh niên Trung Quốc,[22] Đảng Xã hội Quốc gia, và Đảng Tái thiết Nông thôn.[23] Bên trong Quốc Dân Đảng, có những sức ép đòi từ bỏ quan điểm của đảng từ những người Cộng sản. Chính phủ trung ương yếu ớt và không thể tiến hành cuộc cải cách ruộng đất hay tái phân phối tài sản. Chính trị thời kỳ này chủ yếu là những cuộc tranh giành chính trị và quân sự giữa Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc giữa những giai đoạn kháng chiến quân sự chống cuộc xâm lược Nhật Bản.
[sửa] 1949–2005
Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc đã được phác thảo trước khi Trung Hoa lục địa rơi vào tay những người Cộng sản. Nó được tạo ra với mục đích thành lập một chính phủ liên minh giữa những người Quốc gia và Cộng sản để quản lý toàn bộ Trung Hoa, bao gồm cả Đài Loan. Tuy nhiên, Đảng cộng sản Trung Hoa đã tẩy chay Quốc hội, và những đại diện Đài Loan đã không được trúng cử. Hiến pháp bắt đầu có hiệu lực ngày 25 tháng 12 năm 1947.
Đài Loan tiếp tục trải qua giai đoạn thiết quân luật từ 1948 tới tận năm 1987 và đa phần hiến pháp không có hiệu lực. Các cải cách chính trị bắt đầu từ cuối thập niên 1970 và tiếp tục trong suốt thập niên 1990 đã tự do hóa Trung Hoa Dân Quốc từ một nhà nước độc tài độc đảng trở thành một chế độ dân chủ đa đảng. Từ khi thiết quân luật được bãi bỏ, Trung Hoa Dân Quốc đã dân chủ hóa và cải cách, xóa bỏ những cơ quan trước kia đồng nghĩa với việc quản lý toàn bộ lục địa Trung Hoa. Nhiều thành cơ quan vẫn còn tồn tại nhưng không hoạt động. Quá trình sửa đổi này vẫn đang tiếp diễn. Năm 2000, thế độc quyền chính trị của Quốc Dân Đảng chấm dứt sau khi Đảng Dân chủ Tiến bộ (DPP) chiến thắng chức Tổng thống. Tháng 5 năm 2005, một Quốc hội mới được bầu ra để giảm số lượng ghế nghị viện và áp dụng nhiều cải cách hiến pháp. Những cải cách này đã được thông qua; Quốc hội đã bỏ phiếu tự giải tán và chuyển quyền cải cách hiến pháp cho nhân dân thông qua trưng cầu dân ý.[24]
[sửa] Hiện tại
[sửa] Các phe phái chính
Vũ đài chính trị Trung Hoa Dân Quốc được chia thành hai phe, với đảng trung tả ủng hộ thống nhất Quốc Dân Đảng, Đảng Nhân dân Đệ nhất (PFP), và Đảng Mới là Liên minh Pan-Blue, và đảng trung tả ủng hộ độc lập Đảng Dân chủ Tiến bộ (DPP) cùng đảng trung dung Liên đoàn Đoàn kết Đài Loan (TSU) là Liên minh Pan-Green.
Phe Pan-Green thường muốn nhấn mạnh Trung Hoa Dân Quốc là một quốc gia riêng biệt khỏi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nhiều người ủng hộ Liên minh Pan-Green tìm cách chính thức tuyên bố nền độc lập của Đài Loan và bỏ tên hiệu Trung Hoa Dân Quốc. Nhiều thành viên của liên minh, như Tổng thống hiện tại Trần Thủy Biển, đã trung lập hóa quan điểm của mình và cho rằng không cần thiết phải tuyên bố độc lập vì Đài Loan đã là "một quốc gia độc lập, có chủ quyền" và Trung Hoa Dân Quốc cũng là Đài Loan. Một thiểu số nhỏ cho rằng Trung Hoa Dân Quốc không tồn tại và kêu gọi thành lập một nhà nước Cộng hòa Đài Loan độc lập. Những người ủng hộ ý tưởng này đã đưa ra những "hộ chiếu" tự làm cho nước Cộng hòa Đài Loan của họ. Tuy nhiên, những nỗ lực để đưa loại hộ chiếu này vào sử dụng hiện tại đã bị ngừng lại bởi các quan chức tại Sân Bay Quốc tế Taoyuan Đài Loan.
Một số thành viên Liên minh Pan-Blue, đặc biệt là các vị lãnh đạo thuộc thế hệ trước, ủng hộ ý tưởng Trung Hoa Dân Quốc, vốn vẫn là một biểu tượng quan trọng về sự kết nối của họ với Trung Quốc. Trong chuyến thăm lục địa Trung Quốc tháng 4 năm 2005, Cựu Chủ tịch Quốc Dân Đảng Lien Chan lặp lại lòng tin của đảng ông vào Chính sách Một Trung Quốc, nói rằng chỉ có một nhà nước Trung Hoa nằm dưới quyền quản lý của hai chính phủ và rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc. Chủ tịch Đảng Nhân dân Đệ nhất James Soong cũng đã phát biểu tương tự trong chuyến thăm của ông vào tháng 5. Lập trường chính thống hơn của liên minh Pan Blue là bãi bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư và theo đuổi các cuộc thảo luận với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để ngay lập tức thiết lập những đường vận tải trực tiếp giữa hai bên. Về vấn đề độc lập, tư tưởng chủ yếu của Liên minh Pan Blue là giữ nguyên trạng, trong khi vẫn để ngỏ khả năng đàm phán thống nhất.
[sửa] Các vấn đề chính trị hiện tại
Vấn đề chính trị lớn nhất tại Trung Hoa Dân Quốc hiện là mối quan hệ của nước này với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Một số người dân Trung Hoa Dân Quốc hy vọng việc mở các tuyến đường vận tải trực tiếp với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, gồm cả những đường bay trực tiếp sẽ diễn ra. Việc này giúp nhiều thương nhân Trung Hoa Dân Quốc đã mở công ty hay chi nhánh tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Chính quyền của Đảng Dân chủ Tiến bộ hiện nay sợ rằng những tuyến đường như vậy sẽ dẫn tới sự tích hợp sâu hơn nữa về kinh tế và chính trị với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và trong bài phát biểu nhân dịp năm mới Âm lịch 2006, Tổng thống Trần Thủy Biển đã kêu gọi xem xét việc mở những con đường như vậy.
Những vấn đề chính trị quan trọng khác gồm việc thông qua một dự án mua vũ khí đã được Hoa Kỳ cho phép từ năm 2001, và việc thành lập Ủy ban Viễn thông Quốc gia để tiếp quản Văn phòng Thông tin Chính phủ, là cơ quan nắm ảnh hưởng lớn tới truyền thông Trung Hoa Dân Quốc.
Cải cách ngân hàng, gồm hạn chế chi tiêu cá nhân (giới hạn các tỷ lệ trên thẻ tín dụng) và hợp nhất các ngân hàng, là một vấn đề lớn khác. Khu vực tài chính Trung Hoa Dân Quốc rất đa dạng, với hơn bốn mươi tám ngân hàng, và không một ngân hàng nào có thị phần vượt quá 10%.[cần chú thích] Chính phủ kiểm soát 50% tới 60% tài sản ngân hàng Đài Loan.[cần chú thích] Mục tiêu cơ bản là để tạo ra các định chế tài chính lớn có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Chính trị gia và các đảng phái của họ cũng là một vấn đề chính trị. Tình trạng tham nhũng trong một số quan chức Đảng Tiến bộ Dân chủ đã bị phát hiện. Quốc Dân Đảng từng một thời là đảng chính trị giàu nhất thế giới[cần chú thích] và tài sản của Quốc Dân Đảng tiếp tục là một vấn đề. Đầu năm 2006 2006, Tổng thống Trần Thủy Biển đã bị cáo buộc liên quan tới một vụ việc nghi ngờ tham nhũng. Ảnh hưởng chính trị của vụ việc với Tổng thống Trần Thủy Biển rất lớn, gây ra sự chia rẽ trong giới lãnh đạo và những người ủng hộ Đảng Dân chủ Tiến bộ. Cuối cùng vụ việc đã dẫn tới việc thành lập một liên minh Pan-Red do cựu lãnh đạo Đảng Dân chủ Tiến bộ Shih Ming-te người cho rằng Tổng thống nên từ chức thay vì cố bấu víu chức vị; hình thành lên thế liên minh ba bên. Gần cuối năm 2006, chủ tịch Quốc Dân Đảng Ma Ying-jeou cũng gặp phải một vụ scandal liên quan tới tham nhũng.
Việc sáp nhập Quốc Dân Đảng và PFP từng được cho là sẽ chắc chắn xảy ra, nhưng một loạt các vụ rời bỏ đảng từ PFP sang Quốc Dân Đảng đã làm gia tăng căng thẳng trong liên minh Pan-Blue. Đã có những cuộc thảo luận từ cả hai phe nhằm sửa đổi hiến pháp để giải quyết vấn đề liệu Trung Hoa Dân Quốc nên là một nhà nước theo hệ thống tổng thống hay hệ thống nghị viện.
[sửa] Quan hệ đối ngoại
[sửa] 1911–49
Quan hệ nước ngoài của Cộng hòa Trung Hoa phức tạp vì thiếu một sự thống nhất bên trong. Các trung tâm quyền lực trong nước ganh đua lẫn nhau và đều tuyên bố mình là đại diện hợp pháp. Ngoài ra còn có sự can thiệp và xâm lược từ bên ngoài. Nhật Bản, Anh Quốc, Pháp, Italia, Đức, Nga, và các cường quốc khác đều tuyên bố chủ quyền với nhiều vùng lãnh thổ Trung Quốc trong thời gian này. Trong những năm đầu tiên của nền Cộng hoà, hầu như tất cả các cường quốc nước ngoài đều công nhận chính phủ "lãnh chúa" do Viên Thế Khải kiểm soát tại Bắc Kinh là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc. Để đổi lấy sự công nhận, nhà nước Cộng hòa phải nhượng quyền kiểm soát Ngoại Mông và Tây Tạng. Trung Quốc vẫn là một nước bá chủ, nhưng Nga được phép thực hiện ảnh hưởng tại Mông Cổ trong khi Anh tự do hoạt động ở Tây Tạng. Cũng chính chính phủ này đã gửi các đại diện tới ký kết Hiệp ước Versailles về những hành động phản kháng của sinh viên trong Phong trào Ngũ Tứ.
Sau khi Quốc Dân Đảng (những người theo phái Quốc gia) đánh bại chính phủ Bắc Dương tại Bắc Kinh và thanh trừng những người Cộng sản khỏi đảng, Chính phủ Quốc Gia Nam Kinh 1928 được công nhận rộng rãi về ngoại giao. Sự công nhận này kéo dài trong suốt cuộc Nội chiến Trung Quốc và Chiến tranh thế giới thứ hai (dù Nhật Bản đã dựng lên một chính phủ bù nhìn đối lập trong cuộc xâm lược của họ và chính phủ này đã được một số quốc gia Phe Trục công nhận.) Từng chiến đấu trong phe Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Trung Hoa Dân Quốc đã trở thành một trong những quốc gia sáng lập Liên hiệp quốc và giữ một trong năm ghế thường trực trong Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc.
Dù Tưởng Giới Thạch không thể trở thành một nhà cầm quyền hay một nhà chiến lược quân sự thành công, hiện nay ông vẫn được công nhận là một nhà ngoại giao có tài. Trong thập niên 1930, ông đã kìm chế được những hành động thù địch từ phía Nhật Bản bằng cách đàm phán hỗ trợ từ phía Đức Phát Xít. Ngay trước Chiến tranh thế giới thứ hai, ông đã điều đình được viện trợ từ phía những người bảo trợ cũ của mình, người Xô viết. Trong chiến tranh và ngay sau khi chiến tranh kết thúc, ông đã có được nhiều khoản viện trợ to lớn của Hoa Kỳ, gồm cả những khoản viện trợ lend-lease. Những khoản viện trợ quân sự, trang thiết bị, cố vấn và tiền mặt to lớn vẫn tiếp tục đổ sang Trung Hoa Dân Quốc ngay cả khi ông đã phải đưa Quốc Dân Đảng rút về Đài Loan.[25][26]
[sửa] 1949–hiện tại
Sau khi Quốc Dân Đảng rút về Đài Loan, đa số các nước, đáng chú ý nhất là những nước thuộc khối Phương Tây, vẫn tiếp tục duy trì quan hệ với Trung Hoa Dân Quốc. Vì áp lực ngoại giao, sự công nhận này ngày một giảm sút và nhiều nước đã quay sang công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong thập niên 1970. Hiện chỉ có hai mươi bốn nước[27] vẫn duy trì quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Hoa Dân Quốc.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ chối thiết lập quan hệ ngoại giao với bất kỳ nước nào công nhận Trung Hoa Dân Quốc, và yêu cầu mọi quốc gia có quan hệ ngoại giao với mình đưa ra tuyên bố công nhận tuyên bố chủ quyền của họ với Đài Loan. Trên thực tế, hầu hết các nước lớn đều duy trì quan hệ không chính thức với Trung Hoa Dân Quốc và những lời tuyên bố công nhận quan điểm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chỉ là hình thức. Trung Hoa Dân Quốc duy trì quan hệ ngoại giao không chính thức thông qua các Phòng Đại diện Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc hay "Phòng Đại diện Đài Bắc" với hầu hết các chức năng của một đại sứ quán chính thức, như cấp visa. Tương tự, hầu hết các nướcvẫn duy trì các "văn phòng thương mại và kinh tế" tương tự tại Trung Hoa Dân Quốc, như Viện Hoa Kỳ tại Đài Loan, trên thực tế là Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Trung Hoa Dân Quốc.
Trung Hoa Dân Quốc là một thành viên sáng lập của Liên hiệp quốc và giữ ghế của Trung Quốc tại Hội đồng bảo an cho tới tận năm 1971, khi họ bị trục xuất theo Nghị quyết số 2758 Đại hội đồng Liên hiệp quốc và được thay thế trong mọi cơ quan của Liên hiệp quốc bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nhiều nỗ lực của Trung Hoa Dân Quốc nhằm tái gia nhập Liên hiệp quốc chưa mang lại thành công. (Xem Trung Quốc và Liên hiệp quốc)
Bên cạnh những tranh cãi với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về lục địa, Trung Hoa Dân Quốc còn có quan hệ gây nhiều tranh cãi với Mông Cổ. Cho tới năm 1945, Trung Hoa Dân Quốc vẫn tuyên bố quyền tài phán với Đại Mông Cổ, nhưng dưới sức ép của Xô viết, họ đã công nhận nền độc lập của Mông Cổ. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Trung Hoa Dân Quốc đã từ bỏ sự công nhận này và tiếp tục tuyên bố quyền tài phán với Mông Cổ cho tới tận gần đây. Từ cuối thập niên 1990, quan hệ với Mông Cổ đã trở thành một chủ đề gây nhiều tranh cãi. Bất cứ động thái nào liên quan tới việc từ bỏ chủ quyền với Mông Cổ đều là vấn đề gây tranh cãi bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố đó sẽ là sự mở đầu của nền độc lập Đài Loan.
Trung Hoa Dân Quốc bị buộc phải sử dụng cái tên "trung lập" "Trung Hoa Đài Bắc" trong nhiều bối cảnh, vì các áp lực ngoại giao từ phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong nỗ lực của họ nhằm thi hành Chính sách Một Trung Quốc. Trong số các tổ chức yêu cầu Trung Hoa Dân Quốc sử dụng cái tên này có các tổ chức thể thao quốc tế, gồm cả Ủy ban Olympic Quốc tế.
[sửa] Quân đội
[sửa] 1911–49
Nhiều đội quân gắn liền với thời kỳ này, gồm cả những đội quân của nhiều vị lãnh chúa, Quốc Dân Đảng, và Đảng cộng sản Trung Quốc. Có hai đội quân lớn được coi là "Quân đội Quốc gia": Bắc Dương Quân của chính phủ lãnh chúa và sau này là Quân đội Cách mạng Quốc gia của chính phủ quốc gia.
Nhà nước Cộng hòa ra đời một phần nhờ cuộc nổi dậy bên trong Đội quân Mới của nhà Thanh. Khi Viên Thế Khải lên nắm quyền tổng thống, ông đã chỉ huy Bắc Dương Quân, đội quân kiểm soát miền Bắc Trung Quốc. Tuy nhiên, khi Viên Thế Khải chết năm 1916, nhiều phe phái bên trong Bắc Dương Quân chia rẽ, và các vĩ tướng chỉ huy trong Bắc Dương Quân trở thành các vị lãnh chúa, kiểm soát những vùng đất to lớn trong thập kỷ tiếp sau đó. Quân nhân trong những đội quân đó thường không mặc đồng phục và sự khác biệt giữa những quân nhân và kẻ cướp thường không rõ rệt lắm.
Với sự trợ giúp của Quốc tế Cộng sản III, Tôn Dật Tiên đã thành lập Quân đội Cách mạng Quốc gia năm 1925 tại Quảng Đông với mục tiêu thống nhất Trung Quốc dưới quyền quản lý của Quốc Dân Đảng. Để thực hiện mục tiêu, ban đầu đội quân này chiến đấu với những vị lãnh chúa từng làm chia rẽ Trung Quốc, thống nhất đất nước, và sau này sẽ chống lại Hồng quân của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một cuộc xung đột Xô-Trung nhỏ xảy ra năm 1929 liên quan tới việc kiểm soát tuyến Đường sắt Đông Mãn Châu Trung Quốc. Quân đội Cách mạng Quốc gia cũng đã chiến đấu chống cuộc xâm lược Nhật Bản trong Chiến tranh Trung-Nhật lần hai (1931 và 1937–45), đã trở thành một phần của Thế chiến II rộng lớn hơn. Quyền lãnh đạo quân đội trong thời kỳ này đã lấn át quyền chính trị. Theo những nguyên tắc của Chủ nghĩa Lênin sự phân biệt giữa đảng, nhà nước, và quân đội bị xóa bỏ.
Khi Quân đội Giải phóng Nhân dân giành thắng lợi trong cuộc Nội chiến Trung Quốc, đa phần Quân đội Cách mạng Quốc gia rút lui về Đài Loan cùng với chính phủ. Sau này đội quân đó được cải tổ trở thành Quân đội Trung Hoa Dân Quốc. Các đơn vị đầu hàng và ở lại Trung Quốc hoặc được giải giáp hoặc được sáp nhập vào Quân đội Giải phóng Nhân dân
