Trung liên Kiểu 96

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trung liên Kiểu 96
Machine gun Type 96 1.jpg
Một khẩu trung liên Kiểu 96 không kèm băng đạn 30 viên
Loại Trung liên
Nguồn gốc Flag of the Empire of Japan Đế quốc Nhật Bản
Lược sử hoạt động
Trang bị 1936-1945
Quốc gia sử dụng Đế quốc Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân Quốc
Sử dụng trong Chiến tranh Trung-Nhật, Chiến tranh biên giới Xô-Nhật, Thế chiến thứ hai, Nội chiến Trung Quốc, Chiến tranh Triều Tiên
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Kijiro Nambu
Năm thiết kế 1936
Giai đoạn sản xuất 1936-1945
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 9 kg
Chiều dài 1,070 mm
Cỡ nòng  550 mm

Đạn 6.5x50mm Arisaka
Cơ cấu hoạt động Trích khí
Tốc độ bắn 550 viên/phút
Sơ tốc 735 m/s (2,400 ft/s)
Cơ cấu nạp Một hộp đạn rời chứa 30 viên

Trung liên Kiểu 96 (九六式軽機関銃 Kyūroku-shiki Kei-kikanjū) là một loại trung liên được Lục quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng trước và trong Thế chiến thứ hai[1], được đánh giá là tin cậy và đặt hiệu quả cao đối với bộ binh Nhật Bản.[2]

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Những kinh nghiệm chiến đấu trong sự kiện Phụng Thiên năm 1931 và chiến sự tại Mãn Châu và miền Bắc Trung Quốc đã lần nữa khẳng định lục quân Đế quốc Nhật Bản cần một kiểu súng máy mới để tạo hỏa lực yểm trợ cho bộ binh tiến lên.[3] Loại súng máy kiểu cũ, trung liên Kiểu 11 có trọng lượng nhẹ, dễ vận chuyển và đưa vào chiến đấu. Tuy nhiên, thiết kế của kiểu súng này khiến cho cát và sạn dễ bám vào súng khiến nó thường xuyên bị tắc đạn ở những nơi có nhiều bùn đất, và cũng bởi do dung sai kích thước kém. Điều này khiến cho lính Nhật không hài lòng và họ đòi hỏi một mẫu thiết kế khác.[4]

Xưởng sản xuất vũ khí Kokura đã cho thử nghiệm kiểu súng máy của Cộng hòa Séc ZB vz. 26, tịch thu từ Quân đội Cách mạng Quốc dân. Sau cùng, dựa vào một số chi tiết của kiểu súng này, một kiểu súng máy mới của Nhật đã ra đời năm 1936 là trung liên Kiểu 96 (kiểu trung liên này đã lấy Kỷ nguyên Thiên Hoàng năm thứ 2596 để làm tên).

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Trung liên Kiểu 96 có phần lớn cấu trúc giống như Kiểu 11 với hệ thống làm mát bằng không khí, cơ chế hoạt động trích khí và thiết kế dựa trên súng máy Hotchkiss của Pháp. Cũng giống như Kiểu 11, Kiểu 96 cũng sử dụng loại đạn 6.5x50mm Arisaka, chung với súng trường Arisaka kiểu 38[5], mặc dù loại đạn 7.7x58mm Arisaka có hỏa lực mạnh hơn cũng đã được chấp nhận và đã được đưa vào sử dụng cho các đơn vị tiền tuyến.

Điểm khác biệt cơ bản với Kiểu 11 là băng đạn được gắn phía trên súng, chứa 30 viên, vừa làm tăng độ chính xác và vừa làm giảm trọng lượng khẩu súng tuy không đáng kể. Nòng súng có xẻ rãnh để tránh tình trạng súng bị nóng quá mức và có thể dễ dàng tháo ra để thay thế hoặc bảo dưỡng. Đỉnh đầu ruồi và khe ngắm giúp súng có phạm vi ngắm từ 200 đến 1.500 m, với một điều chỉnh gió. Một kính ngắm 2.5X với tầm nhìn 10 độ có thể được gắn phía bên phải súng.[5]

Trung liên Kiểu 96 còn có một giá 2 chân có thể gấp lại được, gắn với cụm hơi và báng súng bằng gỗ. Khi cần thiết, có thể gắn một lưỡi lê ở cụm hơi, ngay phía dưới nòng súng. Súng được thiết kế để có thể bắn liên thanh, nhưng vẫn có thể bắn từng viên một qua việc kéo chậm cò súng. Về khuyết điểm, nhà thiết kế súng Kijiro Nambu đã không làm gì để giải quyết dung sai kích thước giữa khóa nòng và nòng súng, dẫn đến hiện tượng kẹt đạn trong ổ đạn. Để tăng độ tin cậy cho súng (trên lí thuyết), Nambu đã cho bôi một lớp dầu trơn lên mỗi băng đạn của súng thông qua một máy bơm dầu trên hộp tải đạn. Tuy nhiên, trong tập luyện, chính lớp dầu này lại càng làm cho vấn đề trở nên xấu hơn khi nó khiến cho cát và đất bám vào viên đạn và hậu quả hiển nhiên của việc này là súng sẽ bị kẹt.[6] Khuyết điểm này chỉ được giải quyết với sự ra đời của khẩu trung liên Kiểu 99.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trung liên Kiểu 96 đưa vào chiến đấu từ năm 1936 với ý định thay thế hoàn toàn cho Kiểu 11 cũ; tuy nhiên Kiểu 11 đã được sản xuất với một số lượng lớn nên cả 2 kiểu súng máy đều được sử dụng cùng lúc cho đến hết chiến tranh. Kiểu 96 được đánh giá là có tốc độ bắn nhanh và tin cậy, nhưng đạn 6.5 mm còn yếu về uy lực, nên người Nhật đã quyết định phát triển thêm một loại súng có hỏa lực mạnh hơn bằng sự ra đời Trung liên Kiểu 99 sử dụng đạn 7.7 mm vào năm 1937.

Trung liên Kiểu 96 được Lục quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng trong chiến tranh Trung-Nhật và Thế chiến thứ hai. Sau khi thế chiến kết thúc, kiểu trung liên này tiếp tục được Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và sử dụng trong Nội chiến Trung Quốc và sau này là Chiến tranh Triều Tiên. Ngoài ra, năm 1945, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tịch thu một số trung liên từ các đơn vị Nhật đồn trú ở Đông Dương và sử dụng lại trong chiến đấu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bishop, The Encyclopedia of Weapons of World War II
  2. ^ Type 96 Light Machine Gun
  3. ^ Meyer, The Rise and Fall of Imperial Japan. trang 53.
  4. ^ Meyer, The Rise and Fall of Imperial Japan. trang 55
  5. ^ a ă [1] TM-E 30-480 (1945)
  6. ^ Morse, Japanese Small Arms of WW2; Light Machine Guns Models 11, 96, 99 97 & 92

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bishop, Chris (eds) (1998). The Encyclopedia of Weapons of World War II. Barnes & Nobel. ISBN 0760710228. 
  • Mayer, S.L. (1984). The Rise and Fall of Imperial Japan. The Military Press. ISBN 0517423138. 
  • Morse, D.R. (1996). Japanese Small Arms of WW2; Light Machine Guns Models 11, 96, 99 97 & 92. Firing Pin Enterprizes. ASIN: B000KFVGSU. 
  • Popenker, Maxim (2008). Machine Gun: The Development of the Machine Gun from the Nineteenth Century to the Present Day. Crowood. ISBN 1847970303. 
  • Rottman, Gordon L. (2005). Japanese Infantryman 1937-1945. Osprey Publishing. ISBN 1841768189. 
  • US Department of War (1994 reprint). Handbook on Japanese Military Forces, TM-E 30-480 (1945). Louisiana State University Press. ISBN 0807120138. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]