Trung tâm Internet Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trung tâm Internet Việt Nam
VNNIC
Vnnic.jpg
Loại hình Liên kết
Ngành nghề Quản lý Tên miền Việt Nam
Thành lập 2000
Trụ sở chính 18 - Nguyễn Du, Hà Nội
Dịch vụ Đăng ký.vn
Công ty mẹ Bộ Thông tin và Truyền thông
Website http://www.vnnic.vn/

Trung tâm Internet Việt Nam hay tên viết tắt là VNNIC là một đơn vị trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được thành lập chính thức vào ngày 28 tháng 04 năm 2000.[1][2][3] Theo đó, Trung tâm Internet Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý về tên miền Internet trong lãnh thổ Việt Nam cũng như thống kê về tình hình sử dụng Internet tại Việt Nam.[4]

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2001, VNNIC nhận công việc bàn giao quản lý hệ thống máy chủ tên miền DNS quốc gia từ VNPT.[1]

Tháng 03/2003, được Trung tâm Thông tin mạng Châu Á Thái Bình Dương (APNIC) công nhận là Tổ chức quản lý tài nguyên địa chỉ Internet cấp quốc gia.

Tháng 11/2003, chính thức khai trương hệ thống trung chuyển Internet quốc gia (VNIX).

Năm 2003, giải pháp tên miền tiếng Việt do VNNIC sáng kiến nhận giải thưởng VIFOTECH.[1]

Chức năng, nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo quyết định số 02/2008/QĐ-BTTTT [5] do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Lê Doãn Hợp ban hành ngày 05/03/2008, quy định các chức năng, nghĩa vụ và quyền hạn của VNNIC như sau:

  • Quy hoạch, quản lý và phân bổ địa chỉ (IP) và số hiệu mạng (ASN) ở cấp quốc gia.
  • Quản lý tên miền Internet cấp quốc gia bao gồm tên miền các cấp dưới .vn.
  • Quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công nghệ và nhân lực để phát triển Trung tâm Internet Việt Nam phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
  • Thiết lập, khai thác và duy trì hoạt động hệ thống máy chủ tên miền (DNS) quốc gia .vn; trạm trung chuyển Internet quốc gia;đăng ký và duy trì địa chỉ IP, số hiệu mạng cho Internet Việt Nam; tham gia khai thác các công nghệ mới liên quan đến tài nguyên Internet, công nghệ DNSgiao thức IPhệ thống chứng thực CA trên Internet.
  • Kiểm tra, giám sát việc cấp, đăng ký, sử dụng địa chỉ IP, số hiệu mạng và tên miền đối với các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động Internet.
  • Nghiên cứu đề xuất và tham gia với các đơn vị chức năng trực thuộc Bộ để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý nhà nước về tài nguyên Internet, về khai thác, sử dụng dịch vụ và chất lượng Internet trên phạm vi cả nước.
  • Phối hợp với các đơn vị chức năng của Bộ trong công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động của hội và tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực Internet.
  • Tham gia đại diện chính thức về Internet của Việt Nam, tham gia các hoạt động của các tổ chức Internet quốc tế liên quan đến tài nguyên mạng Internet và công nghệ IP.
  • Được quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân hoạt động trên mạng Internet cung cấp các thông tin và các số liệu thống kê liên quan tới hoạt động Internet. Thực hiện báo cáo thống kê tình hình phát triển Internet trong nước.
  • Được thu phí và lệ phí các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm và theo quy định của pháp luật.
  • Tham gia việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.
  • Được phối hợp, hợp tác với các tổ chức quốc tế để khai thác dự phòng hệ thống cho tên miền quốc gia .vn, đăng ký và duy trì tài nguyên Internet Việt Nam, quảng bá quốc tế về Internet Việt Nam và phát triển sử dụng tên miền.vn.
  • Được tham gia cung cấp các dịch vụ liên quan đến tài nguyên Internet, công nghệ IP, công nghệ thông tin và tham gia các hoạt động có liên quan để tạo thêm các nguồn thu khác nhằm mở rộng phạm vi và quy mô hoạt động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm và theo quy định của pháp luật, bảo toàn và phát triển các nguồn lực được giao.
  • Quản lý về tổ chức, cán bộ, viên chức và tài sản của Trung tâm theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ trưởng.
  • Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao.

Tổ chức hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thông tin tại trang web chính thức [6] của VNNIC thì VNNIC bao gồm 6 phòng (trong đó 1 phòng là đài DNS) và 2 chi nhánh.

  • Phòng ban: phòng Tổ chức, hành chính; phòng Kế toán, Tài chính; phòng Quản lý tài nguyên Internet; phòng Kỹ thuật, Tin học; phòng Kinh tế, Thống kê; phòng Quan hệ cộng đồng và đài DNS.
  • Chi nhánh: chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh và chi nhánh tại Thành phố Đà Nẵng.

Một số dư luận về quá trình hoạt động của VNNIC[sửa | sửa mã nguồn]

Tình trạng đầu cơ tên miền Internet Việt Nam vẫn là một vấn đề bức xúc xã hội tuy nhiên VNNIC được công chúng cho là đã làm ngơ không bảo vệ tài nguyên quốc gia một cách triệt để.[7]

Vụ việc ông Vũ Thái Hà kiện VNNIC đã cho thấy nhiều bất ổn trong việc quản lý Internet của VNNIC [8]. Cụ thể vụ việc, vào ngày 17/1/2006, trang web www.000.com.vn của ông Vũ Thái Hà, giám đốc công ty Ecomnet được VNNIC cảnh báo có chứa các nội dung không lành mạnh. VNNIC đã yêu cầu ông Hà gỡ bỏ một số nội dung được cho là trái pháp luật trong cuộc họp cùng ngày, tuy nhiên ông Hà tuyên bố là không thực hiện được vì vấn đề mất quyền kiểm soát. Ông Hà đã xin VNNIC đổi số DNS nhưng tổ chức này không chấp chận. Ngay sau đó, ông Hà đâm đơn kiện VNNIC.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]