Truyện cổ Grimm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Truyện cổ Grimm

Bìa của số đầu tiên (1812)
Tác giả JacobWilhelm Grimm
Quốc gia Germany
Ngôn ngữ tiếng Đức
Thể loại
Nhà xuất bản Various
Ngày phát hành 1812
ISBN n/a

Truyện kể gia đình cho trẻ em (tiếng Đức: Kinder- und Hausmärchen)là một tập hợp các truyện cổ tích tiếng Đức lần đầu tiên được xuất bản năm 1812 bởi Anh em nhà Grimm, JacobWilhelm. Bộ truyện này thường được biết tới là Truyện cổ tích Grimm (tiếng Đức: Grimms Märchen).

Ảnh hưởng của Truyện cổ Grimm rất sâu rộng, được coi là một trong các nền tảng của văn hóa hiện đại phương Tây.[1]

UNESCO chính thức công nhận Truyện cổ Grimm là di sản văn hóa thế giới. Từng được dịch ra 160 thứ tiếng, Truyện cổ Grimm được coi là nguồn cảm hứng bất tận cho các nghệ sĩ hoạt động trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau như hội họa, âm nhạc và điện ảnh.

Quá trình hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Hai anh em nhà Grimm bắt đầu sưu tầm các truyện kể dân gian từ khoảng năm 1807[2] khi nhu cầu tìm hiểu truyện dân gian ở Đức bắt đầu phát triển sau khi Ludwig Achim von ArnimClemens Brentano phát hành tuyển tập bài hát dân gian Des Knaben Wunderhorn. Từ năm 1810, hai người bắt đầu thực hiện bộ sưu tập bản thảo truyện dân gian, những tác phẩm này được Jacob và Wilhelm ghi lại bằng cách mời những người kể truyện đến nhà và chép lại những gì họ kể. Trong số những người kể chuyện này không chỉ có những nông dân mà còn có những người thuộc tầng lớp trung lưu và các học giả, những người sở hữu các câu chuyện nghe được từ người hầu của họ, Jacob và Wilhelm còn mời cả những người Huguenot gốc Pháp tới kể những truyện dân gian có nguồn gốc từ quê hương của họ[3].

Năm 1812, Jacob và Wilhelm Grimm cho xuất bản bộ sưu tập 86 truyện cổ tích Đức trong một cuốn sách mang tựa đề Kinder- und Hausmärchen ("Truyện của trẻ em và gia đình"). Năm 1814 họ cho phát hành tập sách thứ hai với 70 truyện cổ tích, nâng số truyện trong bộ sưu tập lên 156.

Lần xuất bản thứ hai của bộ Kinder- und Hausmärchen từ năm 1819 đến năm 1822 được tăng lên 170 truyện. Tập sách này còn được tái bản thêm 5 lần nữa khi anh em Grimm còn sống[4], mỗi lần đều có thêm những truyện mới và đến lần xuất bản thứ 7 năm 1857 thì con số đã lên đến 211 truyện. Bên cạnh những lời khen ngợi, tác phẩm của anh em Grimm cũng gặp phải những chỉ trích, một số người cho rằng những truyện cổ tích này không thích hợp cho trẻ em mặc dù tên tập sách là dành cho trẻ em[5], những người khác lại chỉ trích bộ sách có ngôn ngữ không đủ "chất Đức"[5].

Danh sách truyện[sửa | sửa mã nguồn]

"KHM" là viết tắt của Kinder- und Hausmärchen, tên gốc. Các xuất bản từ 1812 đến 1857 chia các truyện thành hai tập.

Tập 1[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng đài anh em Grimm tại chợ ở Hanau. (Hessen, Đức)
Bìa của Tập 1, xuất bản lần thứ 4 năm 1840

Tập 2[sửa | sửa mã nguồn]

Frontispiece used for the second volume of the 1840 4th edition

Phần Huyền thoại của trẻ con (Kinder-legende) xuất hiện lần đầu trong phiên bản năm 1819 cuối tập 2).

  • KHM 201: Saint Joseph in the Forest (Der heilige Joseph im Walde)
  • KHM 202: The Twelve Apostles (Die zwölf Apostel)
  • KHM 203: The Rose (Die Rose)
  • KHM 204: Poverty and Humility Lead to Heaven (Armut und Demut führen zum Himmel)
  • KHM 205: God's Food (Gottes Speise)
  • KHM 206: The Three Green Twigs (Die drei grünen Zweige)
  • KHM 207: The Blessed Virgin's Little Glass (Muttergottesgläschen) or Our Lady's Little Glass
  • KHM 208: The Little Old Lady (Das alte Mütterchen) or The Aged Mother
  • KHM 209: The Heavenly Marriage (Die himmlische Hochzeit) or The Heavenly Wedding
  • KHM 210: The Hazel Branch (Die Haselrute)

Các truyện bị loại ra ở lần xuất bản gần đây nhất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Das Birnli will nit fallen
  • Blaubart (Bluebeard)
  • Die drei Schwestern (The Three Sisters)
  • Die Prinzessin auf der Erbse (Princess and the Pea)
  • Der Faule und der Fleißige (The sluggard and the diligent)
  • Der gestiefelte Kater (Puss in Boots)
  • Der gute Lappen (Fragment) (The good rag)
  • Die Hand mit dem Messer (The hand with the knife)
  • Hans Dumm
  • Die heilige Frau Kummernis (The holy woman Kummernis)
  • Hurleburlebutz
  • Die Krähen (The Crows)
  • Der Löwe und der Frosch (The Lion and the Frog)
  • Das Mörderschloss (The Murder Castle)
  • Der Okerlo (The Okerlo)
  • Prinzessin Mäusehaut (Princess Mouse Skin)
  • Der Räuber und seine Söhne (The Robber and His Sons)
  • Schneeblume (Snow Flowers)
  • Der Soldat und der Schreiner (The Soldier and the Carpenter)
  • Der Tod und der Gänsehirt (Death and the Goose herder)
  • Die treuen Tiere (The faithful animals)
  • Das Unglück (The Accident)
  • Vom Prinz Johannes (Fragment) (Of Prince Johannes)
  • Vom Schreiner und Drechsler (From the Maker and Turner)
  • Von der Nachtigall und der Blindschleiche (The nightingale and the slow worm)
  • Von der Serviette, dem Tornister, dem Kanonenhütlein und dem Horn (Of the napkin, the knapsack, the Cannon guarding flax, and the Horn)
  • Wie Kinder miteinander Schlachten gespielt haben (How children played slaughter with each other)
  • Der wilde Mann (The Wild Man)
  • Die wunderliche Gasterei (The strange Inn)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ A. S. Byatt, "Introduction" p. xxx, Maria Tatar, ed. The Annotated Brothers Grimm, ISBN 0-393-05848-4
  2. ^ James M. McGlathery, ed., The Brothers Grimm and Folktale, Champaigne, University of Illinois Press, 1988.
  3. ^ Jack Ziples, When Dreams Came True: Classical Fairy Tales and Their Tradition, tr 69-70 ISBN 0-415-92151-1
  4. ^ Hai tập của lần xuất bản thứ hai phát hành năm 1819, tập thứ ba phát hành năm 1822. Các lần xuất bản sau đó là vào các năm 1822, 1837, 1840, 1843 18501857. Trừ lần xuất bản năm 1819 có 3 tập sách, các lần xuất bản sau đều chỉ gồm 2 tập sách. Donald R. Hettinga, The Brothers Grimm: Two Lives, One Legacy, New York, Clarion Books, 2001; tr. 154.
  5. ^ a ă Maria Tatar, The Hard Facts of the Grimms' Fairy Tales, tr. 15-17, ISBN 0-691-06722-8

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]