Tupolev Tu-144

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tu-144
Tu-144.jpg
Tu-144
Kiểu Máy bay chở khách siêu thanh
Hãng sản xuất Tupolev
Chuyến bay đầu tiên 26 tháng 12, 1975
Được giới thiệu 31 tháng 12, 1968
Hãng sử dụng chính Aeroflot

Tupolev Tu-144 (Tên hiệu NATO: Charger) là chiếc máy bay vận tải siêu thanh (SST) đầu tiên, được chế tạo dưới sự chỉ đạo của phòng thiết kế Tupolev Xô viết do Alexei Tupolev (1925–2001) lãnh đạo.

Các nhà quan sát phương tây đã đặt tên hiệu cho chiếc máy bay là Concordski như 1 cách chế giễu (thỉnh thoảng được viết là Konkordski), nghe như một cái họ Nga nhưng lại rất giống với Concorde. Một nguyên mẫu đã cất cánh lần đầu ngày 31 tháng 12 năm 1968 gần Moskva, hai tháng trước Concorde.

Tu-144 lần đầu vượt bức tường âm thanh ngày 5 tháng 6 năm 1969, và vào ngày 15 tháng 7 năm 1969 nó trở thành chiếc máy bay vận tải đầu tiên vượt tốc độ Mach 2, và là chiếc máy bay chở khách bay nhanh nhất từng có.

Thiết kế và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Buồng lái một chiếc Tu-144 bên trái
Buồng lái Tu-144 bên phải

Người Xô viết đã quảng cáo ý tưởng về Tu-144 trong một bài báo vào tháng 1 năm 1962 trên tờ Technology of the Air Transport (Kỹ thuật Vận tải Hàng không). Bộ không vận đã bắt đầu phát triển Tu-144 ngày 26 tháng 7 năm 1963, sau khi được Hội đồng Bộ trưởng phê chuẩn mười ngày trước đó. Bản vẽ với dự tính chế tạo năm nguyên mẫu có thể bay trong bốn năm. Chiếc máy bay đầu tiên sẵn sàng năm 1966.

Được cho rằng được thiết kế để đạt yêu cầu của Aeroflot về một máy bay dân dụng tầm xa loại lớn, chiếc Tu-144 có số phận rủi ro đầu tiên được chế tạo để làm minh chứng cho sự tự hào dân tộc của đất nước Xô viết cũng như để cạnh tranh với Concorde và một phương tiện siêu thanh có thể có của người Mỹ. Mặc dù có bề ngoài giống với Concorde, Tu-144 dù sao vẫn được thiết kế lớn hơn có thể chứa 140 hành khách và bay với tốc độ lên tới Mach 2.35. Thiết kế của nó lấy cảm hứng từ những nghiên cứu trước đó của mẫu máy bay ném bom Tu-125Tu-135. Mặc dù những chiếc đó không bao giờ được sản xuất, chúng đã mang lại cho các kỹ sư của Tupolev kinh nghiệm trong việc đánh giá một cách chính xác các tác động khí động học ở tốc độ Mach 2 của các loại hình dạng, giải quyết vấn đề nhiệt, thiết kế lối vào động cơ, và biết đến các vấn đề khác liên quan tới việc bay ở vận tốc lớn, như những tiếng nổ siêu thanh. Bản thiết kế cuối cùng có các đặc điểm có cánh hình cung nhọn được viền nhiều (highly-contoured), giống cánh của Concorde và sử dụng bộ phận cử động được để kiểm soát độ lên xuống (pitch) chứ không dùng cánh ngang ở đuôi kiểu truyền thống. Cũng giống như Concorde, các động cơ được đặt thành cặp gần bộ phận lái ở đuôi dưới mỗi cánh, và thân trước sử dụng một cơ cấu mũi chúc xuống để cải thiện tầm nhìn của phi công khi cất và hạ cánh.

Dự án phát triển chiếc Tu-144 bị cáo buộc có liên quan đến vụ gián điệp công nghiệp do Liên Xô thực hiện chống lại nhà sản xuất máy bay Concorde là Aérospatiale của Pháp, mặc dù chiếc Tu-144 đã được xuất xưởng trước Concord 1 năm.

Một đại diện của hãng Aeroflot tại Paris là Sergei Pavlov đã bị giữ khi ông ta bị phát hiện sở hữu các bản vẽ về hệ thống thắng, bánh đáp cũng như khung máy bay của chiếc Concorde. Sau đó ông ta đã chuyển các bản vẽ này về Nga từ năm 1965.

Mặc dù được quảng cáo lần đầu tiên với công chúng vào năm 1965, nhưng đa phần thế giới vẫn không được nhìn kỹ chiếc máy bay mới cho tới tận khi một chiếc Tu-144 xuất hiện ở cuộc Triển lãm hàng không Paris. Không may thay, chiếc máy bay này lao xuống đất trước mắt báo chí thế giới và là một tai hoạ lớn cho chương trình của Xô viết. Sau nhiều sửa đổi, gồm cả việc lắp thêm cánh mũi có thể thụt vào để cải thiện tính năng bay tốc độ thấp, thiết kế đường dẫn vào mới, tăng sải cánh, một thân máy bay được kéo dài hơn và bỏ ghế phóng của phi công vốn có ở mẫu đầu tiên, chiếc máy bay đã có vẻ đáng tin cậy. Chiếc Tu-144 đầu tiên được đưa vào sử dụng vào cuối năm 1975 và bắt đầu một loạt các chuyến bay chở hàng và thư từ giữa MoskvaAlma Ata. Hai năm sau, việc vận chuyển hành khách cũng bắt đầu giữa các thành phố đó. Các chuyến bay đó chỉ kéo dài trong bảy tháng, tuy nhiên, vẫn trước khi xảy ra một tai nạn thảm khốc thứ hai dẫn tới việc kết thúc sự vận hành của loại Tu-144, những chiếc Tu-144 còn lại bị tống vào kho hay được trao cho các bảo tàng.

Kiểu mẫu duy nhất tiếp tục bay là kiểu Tu-144D được cải tiến, được sử dụng như một testbed nghiên cứu siêu thanh. Một trong những chiếc đó được cải tiến tiếp thành loại Tu-144LL có tiêu chuẩn và được vận hành hỗn hợp bởi Nga và Mỹ như một phần của chương trình Vận tải hàng không dân dụng tốc độ cao (HSTC) của NASA. Chiếc máy bay này đã hoàn thành 27 chuyến bay nghiên cứu để tiến hành các cuộc thử nghiệm về các kỹ thuật động cơ siêu thanh, các hệ thống nhiên liệu, quản lý bay tân tiến, kỹ thuật giảm tiếng ồn, và các khái niệm khác nhằm làm cho các chuyến bay siêu thanh trở nên kinh tế và thân thiện hơn với môi trường. Chiếc Tu-144LL duy nhất sau đó được bán cho một nhà sở hữu tư nhân qua mạng eBay với giá 11 triệu đô la Mỹ năm 2001.

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Tu-144 Kiểu ban đầu
  2. Tu-144S Kiểu sản xuất hàng loạt đầu tiên; khoảng 14 chiếc
  3. Tu-144D Kiểu cải tiến, có thể có động cơ hiệu suất nhiên liệu cao hơn, ban đầu được sử dụng để nghiên cứu tốc độ cao.
  4. Tu-144LL Kiểu đã được sửa chữa của Tu-144D với động cơ mạnh hơn, thiết bị điện tử tiên tiến và nhiều thiết bị thử nghiệm và được vận hành hỗn hợp bởi Nga và NASA để nghiên cứu tốc độ cao.

Các hãng khai thác[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc điểm kỹ thuật (Tu-144LL với động cơ Kuznetsov NK-321)[sửa | sửa mã nguồn]

Có đặc điểm kỹ thuật cho loại Tu-144LL với các động cơ tuốc bin cánh quạt đẩy phiên bản quân sự. Những động cơ này không được xuất khẩu.

Hình chiếu Tu-144LL.

Đặc điểm chung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi đội: 3
  • Sức chở: 120-140 hành khách
  • Chiều dài: 65.50 m (215.54 ft)
  • Sải cánh: 28.80 m (94.48 ft)
  • Chiều cao: 10.50 m (34.42 ft)
  • Diện tích cánh: 438.0 m² (4.715 ft²)
  • Trọng lượng rỗng: 85.000 kg (187.400 lb)
  • Trọng lượng chất tải:
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 180.000 kg (397.000 lb)
  • Dung tích nhiên liệu: 70.000 kg (154.000 lb)
  • Động cơ: 4 động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy Kuznetsov NK-144 có buồng đốt lần hai, 200 kN (44.122 lbf) mỗi chiếc

Đặc điểm bay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tốc độ tối đa: Mach 2.35 (2.500 km/h, 1.550 mph)
  • Tốc độ bay tiết kiệm nhiên liệu: Mach 2.16 (2.300 km/h, 1.430 mph)
  • Trần bay: 18.000 m (59.100 ft)
  • Tầm hoạt động: 6.500 km (3.500 nm, 4.000 mi)
  • Tốc độ lên: 9.840 ft/min (3000 m/min)
  • Chất tải cánh: 410.96 kg/m² (84.20 lb/ft²)
  • Lực đẩy/Trọng lượng: 0.44

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gordon, Yefim. Tupolev Tu-144. London: Midland, 2006. ISBN 1-85780-216-0.
  • Kandalov, Andrei and Duffy, Paul. Tupolev: The Man and His Aircraft: The Man and His Aircraft. Warrendale, PA: Society of Automotive Engineers, 1996. ISBN 1-56091-899-3.
  • Moon, Howard. Soviet SST: The Technopolitics of the Tupolev-144. Orion Books, 1989. ISBN 0-517-56601-X.
  • Wright, Peter and Greengrass, Paul. Spycatcher: The Candid Autobiography of a Senior Intelligence Officer. London: Viking, 1987. ISBN 0-670-82055-5.
  • Wynne, Greville. The Man from Odessa. Dublin: Warnock Books, 1983. ISBN 0-586-05709-9.
  • Taylor, John W.R. Jane's Pocket Book of Commercial Transport Aircraft New York: Macmillan, 1974. ISBN 12-080480-6.

Chủ đề liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]