USS Bagley (DD-185)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Bagley (DD-185)
Tàu khu trục USS Bagley (DD-185)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Bagley (DD-185)
Đặt tên theo: Worth Bagley
John James Doran
Hãng đóng tàu: Newport News Shipbuilding and Dry Dock Company, Newport News, Virginia
Đặt lườn: 11 tháng 5, 1918
Hạ thủy: 19 tháng 10, 1918
Đỡ đầu bởi: bà Adelaide Worth Bagley
Nhập biên chế: 27 tháng 8, 1919
Tái biên chế: 17 tháng 6, 1940
Xuất biên chế: 12 tháng 7, 1922
22 tháng 9, 1940
Đổi tên: USS Doran, 22 tháng 12, 1939
Xóa đăng bạ: 8 tháng 1, 1941
Số phận: Chuyển cho Anh Quốc, 22 tháng 9, 1940
Phục vụ
Tên gọi: HMS St. Mary's (I-12)
Nhập biên chế: 22 tháng 9, 1940
Xuất biên chế: tháng 2, 1944
Số phận: Tháo dỡ, 1945
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
133 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Bagley (DD–185) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, sau đổi tên thành USS Doran (DD–185). Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, nó được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh năm 1940 như là chiếc HMS St. Mary's (I-12) và phục vụ cho đến năm 1944. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Thiếu úy Hải quân Worth Bagley (1874-1898), sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ duy nhất tử trận trong cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bagley được đặt lườn vào ngày 11 tháng 5, 1918 tại xưởng tàu của hãng Newport News Shipbuilding and Dry Dock CompanyNewport News, Virginia. Nó được hạ thủy vào ngày 19 tháng 10, 1918, được đỡ đầu bởi bà Adelaide Worth Bagley, mẹ Thiếu úy Bagley, và được đưa ra hoạt động vào ngày 27 tháng 8, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân R. L. Walker.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

USS Bagley - USS Doran[sửa | sửa mã nguồn]

Trình diện để hoạt động cùng Hạm đội Đại Tây Dương, từ tháng 8, 1919 đến tháng 7, 1920, Bagley phục vụ cùng các chi hạm đội khu trục 1, 3 và 8, tham gia các cuộc cơ động và huấn luyện tại Đại Tây Dương và vùng biển Caribe. Nó được đưa về lực lượng dự bị từ ngày 16 tháng 7, 1920, rồi được cho xuất biên chế tại Philadelphia, Pennsylvania vào ngày 12 tháng 7, 1922. Trong giai đoạn từ ngày 25 tháng 4, 1932 đến ngày 20 tháng 4, 1934, nó được chuyển cho Tuần duyên Hoa Kỳ mượn.

Cái tên Bagley bị loại bỏ từ ngày 31 tháng 5, 1935, và cho đến năm 1939 nó chỉ được gọi dưới ký hiệu lườn DD-185. Nó được đổi tên thành USS Doran (DD-185) vào ngày 22 tháng 12, 1939, tên được đặt theo John James Doran (1864-1904), người được tặng thưởng Huân chương Danh dự trong cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ. Được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 17 tháng 6, 1940, nó trình diện để hoạt động cùng Hải đội Đại Tây Dương, và phục vụ cùng đơn vị này cho đến ngày 22 tháng 9, 1940, khi nó được cho xuất biên chế tại Halifax, Nova Scotia để được chuyển giao cho Anh Quốc như một phần của Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ.

HMS St. Mary's[sửa | sửa mã nguồn]

Doran được đổi tên thành HMS St. Mary's và đi đến Belfast, Bắc Ireland vào ngày 8 tháng 10, 1940. Nó được điều về lực lượng hộ tống cho Hải đội Rải mìn 1, đi đến khu vực bờ biển phía Tây Scotland vào ngày 31 tháng 10, và tham gia một số hoạt động ban đầu tại eo biển Đan Mạch giữa IcelandGreenland. Nó cũng hộ tống một số đoàn tàu vận tải. Trong năm 1941, nó tham gia hầu hết các hoạt động rải mìn của hải đội, giúp vào việc bảo vệ các con tàu. Vào ngày 29 tháng 8, 1941, nó mắc tai nạn va chạm với một tàu vận tải ngoài khơi bờ biển phía Tây Scotland, và phải vào ụ tàu Salford sửa chữa cho đến tháng 12.

St. Mary's tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ rải mìn và bảo vệ tàu bè trong những năm 19421943. Đến tháng 2, 1944, nó được cho ngừng hoạt động tại Tyne và bỏ không tại đây cho đến khi chiến tranh kết thúc, rồi bị tháo dỡ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]