USS Baltimore (CA-68)
Tàu tuần dương USS Baltimore |
|
| Phục vụ (Hoa Kỳ) | |
|---|---|
| Tên gọi: | USS Baltimore |
| Đặt tên theo: | Baltimore |
| Hãng đóng tàu: | Xưởng tàu Fore River |
| Đặt lườn: | 26 tháng 5 năm 1941 |
| Hạ thủy: | 28 tháng 7 năm 1942 |
| Đỡ đầu bởi: | Bà Howard W. Jackson |
| Nhập biên chế: | 15 tháng 4 năm 1943 |
| Tái biên chế: | 28 tháng 11 năm 1951 |
| Xuất biên chế: | 8 tháng 7 năm 1946 |
| Ngừng hoạt động: | 31 tháng 5 năm 1956 |
| Xóa đăng bạ: | tháng 2 năm 1971 |
| Danh hiệu và phong tặng: |
9 × Ngôi sao Chiến đấu |
| Số phận: | Bị tháo dỡ 10 tháng 5 năm 1972 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp và kiểu: | Lớp tàu tuần dương Baltimore |
| Trọng tải choán nước: | 14.500 tấn (tiêu chuẩn) 17.000 tấn (đầy tải) |
| Độ dài: | 205,3 m (673 ft 7 in) |
| Sườn ngang: | 21,6 m (70 ft 10 in) |
| Độ cao: | 34,4 m (112 ft 10 in) (cột ăn-ten) |
| Mớn nước: | 7,3 m (23 ft 11 in) |
| Động cơ đẩy: | 4 × turbine hơi nước hộp số 4 × nồi hơi, áp lực 4.240 kPa (615 psi) 4 × trục công suất 120.000 mã lực (89,5 MW) |
| Tốc độ: | 33 hải lý một giờ (61 km/h) |
| Tầm xa: | 18.500 km (10.000 hải lý) ở tốc độ 27,8 km/h (15 knot) |
| Tầm hoạt động: | 2.250 tấn dầu |
| Thủy thủ đoàn đầy đủ: |
1.146 (61 sĩ quan, 1085 thủy thủ) |
| Vũ trang: | 9 × hải pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber (3×3) 12 × hải pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber đa dụng (6×2) 48 × pháo phòng không Bofors 40 mm 24 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm |
| Bọc giáp: | đai giáp chính: 152 mm (6 inch) sàn tàu: 76 mm (3 inch) tháp pháo: 76–152 mm (3-6 inch) tháp chỉ huy: 203 mm (8 inch) |
| Máy bay mang theo: | 4 × máy bay Vought OS2U Kingfisher/Curtiss SC-1 Seahawk |
| Thiết bị bay: | 2 × máy phóng |
USS Baltimore (CA-68) là một tàu tuần dương hạng nặng của Hải quân Hoa Kỳ, là chiếc dẫn đầu của lớp tàu tuần dương Baltimore. Nó đã hoạt động trong giai đoạn sau của Chiến tranh Thế giới thứ hai tại Mặt trận Thái Bình Dương, ngừng hoạt động sau khi chiến tranh kết thúc, rồi lại phục vụ trong giai đoạn 1951-1956 trước khi được xóa đăng bạ năm 1971 và bị tháo dỡ vào năm 1972.
Mục lục |
Thiết kế và chế tạo[sửa]
Baltimore được đặt lườn vào ngày 26 tháng 5 năm 1941 tại xưởng đóng tàu của hãng Bethlehem Steel Company tại Fore River, Massachusetts, được hạ thủy vào ngày 28 tháng 7 năm 1942 và được đỡ đầu bởi bà Howard W. Jackson, phu nhân Thị trưởng thành phố Baltimore. Nó được đưa ra hoạt động vào ngày 15 tháng 4 năm 1943 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Walter Carson Calhoun và được điều động về Hạm đội Thái Bình Dương.
Lịch sử hoạt động[sửa]
Chiến tranh Thế giới thứ hai[sửa]
Từ tháng 11 năm 1943 đến tháng 6 năm 1944, Baltimore là một đơn vị của lực lượng bắn pháo và yểm trợ đã tham gia cuộc đổ bộ lên quần đảo Makin từ ngày 20 tháng 11 đến ngày4 tháng 12 năm 1943; tấn công Kwajalein từ ngày 29 tháng 1 đến ngày 8 tháng 12 năm 1944, Chiến dịch Hailstone nhằm không kích Truk trong các ngày 16-17 tháng 2; và cuộc chiếm đóng Eniwetok từ ngày 17 tháng 2 đến ngày 2 tháng 3. Vào ngày 17 tháng 2, Trung úy Hải quân Denver M. Baxter lái một thủy phi cơ OS2U Kingfisher xuất phát từ Baltimore, dưới sự yểm trợ của hai chiếc F6F Hellcat, đã cứu được Trung úy George M. Blair thuộc Phi đội VF-9 ở địa điểm cách đảo Dublon không đầy 5.400 m (6.000 yard) bên trong vũng biển Truk do chiếc Hellcat của mình bị hỏa lực phòng không bắn rơi.
Baltimore tiếp tục bắn pháo hỗ trợ cho cuộc tấn công quần đảo Mariana trong các ngày 21-22 tháng 2, xuống Palau-Yap-Ulithi-Woleai từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 1 tháng 4; cuộc đổ bộ lên Hollandia (ngày nay là Jayapura) trong các ngày 21-24 tháng 4; không kích Truk-Satawan-Ponape từ ngày 29 tháng 4 đến ngày 1 tháng 5; không kích xuống đảo Marcus ngày 19-20 tháng 5 và đảo Wake ngày 23 tháng 5; cuộc tấn công Saipan từ ngày 11 đến ngày 24 tháng 6; và Trận chiến biển Philippine trong các ngày 19 và 20 tháng 6.
Quay trở về Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 1944, Baltimore đón Tổng thống Franklin D. Roosevelt cùng đoàn tùy tùng lên tàu để đưa đến Trân Châu Cảng. Sau cuộc gặp gỡ cùng Đô đốc Chester Nimitz và Đại tướng Douglas MacArthur, Tổng thống được Baltimore đưa đến Alaska nơi ông rời tàu vào ngày 9 tháng 8 năm 1944.
Quay trở lại khu vực chiến sự vào tháng 11 năm 1944, Baltimore được bố trí vào Đệ Tam hạm đội và đã tham gia vào các cuộc tấn công Luzon trong các ngày 14-16 tháng 12 năm 1944 và 6-7 tháng 1 năm 1945; xuống Đài Loan trong các ngày 3-4, 9, 15 và 21 tháng 1; bờ biển Trung Quốc trong các ngày 12 và 16 tháng 1; và xuống Okinawa trong ngày 22 tháng 1. Vào ngày 26 tháng 1 nó gia nhập Đệ Ngũ hạm đội cho các hoạt động sau cùng trong chiến tranh: tấn công đảo Honshū trong các ngày 16-17 tháng 2; Chiến dịch Iwo Jima từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 5 tháng 3; và các cuộc không kích của Hạm đội 5 hỗ trợ cho Chiến dịch Okinawa từ ngày 18 tháng 3 đến ngày 10 tháng 6.
Sau chiến tranh[sửa]
Sau khi Nhật Bản chấp nhận đầu hàng, Baltimore tham gia nhiệm vụ "Magic Carpet" hồi hương binh lính Hoa Kỳ từ nước ngoài, rồi nằm trong thành phần lực lượng hải quân phục vụ cho việc chiếm đóng Nhật Bản từ ngày 29 tháng 11 năm 1945 đến ngày 17 tháng 2 năm 1946. Rời Viễn Đông ngày 17 tháng 2 năm 1946, nó quay trở về Hoa Kỳ và được đưa về Hạm đội Dự bị tại Bremerton, Washington vào ngày 8 tháng 7 năm 1946.
Baltimore được cho hoạt động trở lại vào ngày 28 tháng 11 năm 1951 và được bố trí về Hạm đội Đại Tây Dương. Nó được điều động cùng Đệ Lục hạm đội tại Địa Trung Hải vào mùa Hè những năm 1952, 1953 và 1954. Vào tháng 6 năm 1953 nó đại diện cho Hải quân Hoa Kỳ trong cuộc Duyệt binh hạm đội của Hải quân Hoàng gia Anh tại Spithead, Anh Quốc. Vào ngày 5 tháng 1 năm 1955 nó được chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương, và được bố trí cùng Đệ Thất hạm đội tại Viễn Đông từ tháng 2 đến tháng 8 năm 1955.
Sau khi quay về từ Viễn Đông, Baltimore vào ụ tàu chuẩn bị để được ngừng hoạt động, và nó được đưa về Hạm đội Dự bị tại Bremerton vào ngày 31 tháng 5 năm 1956. Nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 15 tháng 2 năm 1971, bị bán vào ngày 10 tháng 5 năm 1972 và được tháo dỡ tại Portland, Oregon sau đó.
Phần thưởng[sửa]
Baltimore được tặng thưởng chín Ngôi sao Chiến đấu do thành tích phục vụ tại Thái Bình Dương trong Thế Chiến II.
Đối tượng tuyên truyền của Bắc Triều Tiên[sửa]
Bảo tàng Chiến thắng Chiến tranh giải phóng quê hương tại Bình Nhưỡng, Bắc Triều Tiên, đã trưng bày một biển tuyên truyền cho rằng Baltimore đã bị Hải quân Nhân dân Triều Tiên đánh chìm vào ngày 2 tháng 7 năm 1950; một xuồng phóng lôi có công “đánh chìm” nó cũng được trưng bày tại đây. Trong thực tế, Baltimore chưa bao giờ được bố trí hoạt động trong Chiến tranh Triều Tiên, cũng như chưa từng tham gia hoạt động tác chiến nào sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Trận đánh thực sự diễn ra vào ngày 2 tháng 7 có liên quan đến tàu tuần dương hạng nhẹ USS Juneau cùng với tàu xà-lúp HMS Black Swan và tàu tuần dương HMS Jamaica của Hải quân Hoàng gia Anh, đã cùng nhau tiêu diệt ba trong số bốn xuồng phóng lôi Bắc Triều Tiên đang hộ tống các tàu vận tải tiếp liệu, mà không có hỏa lực bắn trả đáng kể nào từ phía Bắc Triều Tiên.[1]
Tham khảo[sửa]
Chú thích[sửa]
Thư mục[sửa]
- Bài này có các trích dẫn từ nguồn en:Dictionary of American Naval Fighting Ships thuộc phạm vi công cộng.
Liên kết ngoài[sửa]
|
|||||||||||