USS Bernadou (DD-153)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Bernadou (DD-153)
Tàu khu trục USS Bernadou (DD-153)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Bernadou (DD-153)
Đặt tên theo: John Bernadou
Hãng đóng tàu: William Cramp and Sons, Philadelphia, Pennsylvania
Đặt lườn: 4 tháng 6, 1918
Hạ thủy: 7 tháng 11, 1918
Đỡ đầu bởi: cô Cora Winslow Bernadou
Nhập biên chế: 19 tháng 5, 1919
Tái biên chế: 1 tháng 5, 1930
tháng 10, 1939
Xuất biên chế: 1 tháng 7, 1922
tháng 9, 1936
17 tháng 7, 1945
Xóa đăng bạ: 13 tháng 8, 1945
Danh hiệu và
phong tặng:
Đơn vị Tuyên dương Tổng thống
5 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận: Bán để tháo dỡ, 30 tháng 11, 1945
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
133 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Bernadou (DD–153) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và đã tiếp tục phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Trung tá Hải quân John Bernadou.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bernadou được đặt lườn vào ngày 4 tháng 6, 1918 tại xưởng tàu của hãng William Cramp & SonsPhiladelphia, Pennsylvania. Nó được hạ thủy vào ngày 7 tháng 11, 1918, được đỡ đầu bởi cô Cora Winslow Bernadou, em gái Trung tá Bernadou, và được đưa ra hoạt động vào ngày 19 tháng 5, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân L. G. Farley.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một chuyến đi đến Châu Âu vào mùa Hè năm 1919, Bernadou gia nhập Đội 19 trực thuộc Hạm đội Đại Tây Dương, và hoạt động dọc theo vùng bờ Đông Hoa Kỳ cho đến khi được cho xuất biên chế tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 1 tháng 7, 1922. Nó được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 1 tháng 5, 1930, và gia nhập Hải đội 7 trực thuộc Lực lượng Tuần tiễu; rồi lại được cho xuất biên chế và bỏ không từ tháng 9, 1936 đến tháng 10, 1939.

Sau khi chiến tranh nổ ra tại Châu Âu, Bernadou được huy động trở lại và gia nhập Đội khu trục 6, Hải đội Đại Tây Dương làm nhiệm vụ Tuần tra Trung lập. Nó giúp hộ tống đoàn tàu vận tải chuyển lực lượng Thủy quân Lục chiến đến chiếm đóng Iceland từ ngày 1 đến ngày 7 tháng 7, 1941; và ngoại trừ một chuyến vượt đại dương đến Anh Quốc, nó tiếp tục làm nhiệm vụ hộ tống vận tải giữa Newfoundland và Iceland cho đến mùa Thu năm 1942. Vào ngày 25 tháng 10, 1942, nó rời Norfolk, Virginia tham gia cuộc đổ bộ lên Bắc Phi từ ngày 8 đến ngày 11 tháng 11, đã được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị Tuyên dương Tổng thống do thành tích đổ bộ binh lính chiếm đóng bên trong cảng Safi, Morocco.

Quay trở về Boston vào ngày 26 tháng 11, Bernadou tiếp nối nhiệm vụ hộ tống vận tải dọc theo vùng bờ Đông cho đến tháng 2, 1943. Nó thực hiện một chuyến đi hộ tống vận tải đến Gibraltar vào tháng 3tháng 4, và vào ngày 10 tháng 5, đã rời Norfolk đi Oran, Algérie. Nó hoạt động ngoài khơi Oran cho đến tháng 12, 1943, hỗ trợ cho Trận đổ bộ Gela trong giai đoạn chiếm đóng Sicily từ ngày 9 đến ngày 12 tháng 7, tham gia cuộc đổ bộ lên Salerno trong các ngày 9102123 tháng 9; và hộ tống các đoàn tàu vận tải tại Địa Trung Hải.

Bernadou quay trở về Hoa Kỳ vào tháng 12, 1943, rồi hộ tống hai đoàn tàu vận tải đi Bắc Phi vào 22 tháng 29 tháng 6, 1944, trước khi được rút về các hoạt động hộ tống an bình hơn tại vùng bờ Đông cho đến biển Caribe. Từ tháng 10, 1944 đến tháng 5, 1945, nó phục vụ như tàu canh phòng máy bay và hộ tống cho các cuộc thực tập tàu sân bay ngoài khơi vùng bờ Đông. Nó đi đến Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 8 tháng 6, 1945, được cho ngừng hoạt động vào ngày 17 tháng 7, và bán để tháo dỡ vào ngày 30 tháng 11, 1945.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài danh hiệu Đơn vị Tuyên dương Tổng thống, Bernadou còn được tặng thưởng năm Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]