USS Biddle (DD-151)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Biddle (DD-151)
Tàu khu trục USS Biddle (DD-151)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Biddle (DD-151)
Đặt tên theo: Nicholas Biddle
Hãng đóng tàu: William Cramp and Sons, Philadelphia, Pennsylvania
Đặt lườn: 22 tháng 4, 1918
Hạ thủy: 3 tháng 10, 1918
Nhập biên chế: 22 tháng 4, 1919
Tái biên chế: 16 tháng 10, 1939
Xuất biên chế: 20 tháng 6, 1922
5 tháng 10, 1945
Xếp lớp lại: AG-114, 30 tháng 6, 1945
Xóa đăng bạ: 24 tháng 10, 1945
Danh hiệu và
phong tặng:
1 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận: Bán để tháo dỡ, 3 tháng 12, 1946
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
133 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Biddle (DD–151) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, sau được cải biến thành tàu phụ trợ AG-114 vào giai đoạn cuối của Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Đại tá Hải quân Nicholas Biddle (1750-1778).

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Biddle được đặt lườn vào ngày 22 tháng 4, 1918 tại xưởng tàu của hãng William Cramp & SonsPhiladelphia, Pennsylvania. Nó được hạ thủy vào ngày 3 tháng 10, 1918, được đỡ đầu bởi cô Elise B. Robinson cháu gái năm đời của Đại tá Biddle, và được đưa ra hoạt động vào ngày 22 tháng 4, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân C. T. Blackburn.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi được đưa vào hoạt động, Biddle thực hiện một chuyến đi đến Địa Trung Hải, và quay về New York vào ngày 1 tháng 7, 1920. Sau khi được phân về Đội khu trục 48 trực thuộc Hạm đội Đại Tây Dương, nó hoạt động dọc theo vùng bờ Đông Hoa kỳ cho đến khi được cho xuất biên chế tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 20 tháng 6, 1922.

Nó bị cho bỏ không cho đến khi được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 16 tháng 10, 1939. Cho đến tháng 11, 1940, nó hoạt động tuần tra cùng với Đội khu trục 66 trực thuộc Hải đội Đại Tây Dương và nhiệm vụ huấn luyện cùng sĩ quan Hải quân Dự bị. Nó tiến hành tuần tra tại vùng biển Caribe theo lệnh của Tư lệnh Quân khu Hải quân 15 từ tháng 11, 1940 đến tháng 5, 1941, rồi gia nhập trở lại Đội khu trục 66 để tuần tra ngoài khơi Key West, Florida.

Biddle trải qua giai đoạn từ tháng 3, 1942 đến tháng 2, 1945 làm nhiệm vụ hộ tống vận tải tại vùng biển Caribe, trừ hai giai đoạn ngắn. Nó tham gia vào Đội đặc nhiệm 2 chống tàu ngầm từ ngày 18 tháng 1 đến ngày 27 tháng 2, 1944, và hộ tống một đoàn tàu vận tải đến Bắc Phi từ ngày 24 tháng 3 đến ngày 11 tháng 5, 1944. Trong giai đoạn sau, từ ngày 11 đến ngày 12 tháng 4, đang khi đánh trả các cuộc không kích, bảy người trong số thủy thủ đoàn của nó đã bị thương do hỏa lực càn quét của máy bay Đức.

Biddle hoạt động ngoài khơi vùng bờ Đông từ tháng 3 đến tháng 7, 1945 cho nhiệm vụ thực hành huấn luyện cùng các xuồng phóng lôi. Nó được xếp lại lớp như một tàu phụ trợ với ký hiệu lườn AG-114 vào ngày 30 tháng 6, 1945, và đi đến Xưởng hải quân Boston vào ngày 15 tháng 7 để được cải biến. Công việc cải tạo hoàn tất đúng lúc Nhật Bản đầu hàng, và nó tiếp tục ở lại Boston cho đến khi được cho ngừng hoạt động vào ngày 5 tháng 10, 1945 và bị bán để tháo dỡ vào ngày 3 tháng 12, 1946.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Biddle được tặng thưởng một Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]