USS Boise (CL-47)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Boise moored at Harbor
Tàu tuần dương USS Boise neo đậu trong cảng
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Hãng đóng tàu: Newport News Shipbuilding and Dry Dock Company, Newport News, Virginia
Hạ thủy: 3 tháng 12 năm 1936
Đỡ đầu bởi: Cô Salome Clark
Nhập biên chế: 12 tháng 8 năm 1938
Xuất biên chế: 1 tháng 7 năm 1946
Danh hiệu và
phong tặng:
11 × Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bán cho Argentina, 11 tháng 1 năm 1951
Ngừng hoạt động và tháo dỡ 1978
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Brooklyn
Trọng tải choán nước: 9.767 tấn Anh (9.924 t) (tiêu chuẩn)
12.207 tấn Anh (12.403 t) (đầy tải)[1]
Độ dài: 608 ft 4 in (185,42 m) (chung)
Sườn ngang: 61 ft 9 in (18,82 m)
Mớn nước: 243 ft (74 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số Parsons
8 × nồi hơi Babcock & Wilcox
4 × trục
công suất 100.000 shp (75.000 kW)
Tốc độ: 33,5 hải lý một giờ (62,0 km/h; 38,6 mph)
Tầm xa: 10.000 nmi (18.520 km; 11.510 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
868
Vũ trang:

15 × pháo 203 mm (6 inch) Mark 16 (5×3)

8 × pháo 127 mm (5 inch)/25 caliber đa dụng (8×1) [2]
Bọc giáp: đai giáp chính: 140 mm (5,5 inch);
sàn tàu: 50 mm (2 inch);
tháp pháo: 50-170 mm (2-6,5 inch);
bệ tháp pháo: 152 mm (6 inch);
tháp chỉ huy: 127 mm (5 inch)
Máy bay mang theo: 4 × thủy phi cơ
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Boise (CL-47) là một tàu tuần dương hạng nhẹ thuộc lớp Brooklyn của Hải quân Hoa Kỳ, từng hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai và tham gia nhiều chiến dịch tại Mặt trận Thái Bình Dương cũng như tại Địa Trung Hải. Sau chiến tranh, nó được cho ngừng hoạt động vào năm 1946, rồi được bán cho Argentina vào năm 1951, và được đổi tên thành Nueve de Julio. Nó tiếp tục phục vụ trong Hải quân Argentine cho đến năm 1978, khi nó được cho ngừng hoạt động và kéo đến Nhật Bản để tháo dỡ.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Boise là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Mỹ mang cái tên này, vốn được đặt theo thành phố Boise, thủ phủ tiểu bang Idaho. Nó được đặt lườn vào ngày 1 tháng 4 năm 1935 tại hãng Newport News Shipbuilding and Dry Dock Company, Newport News, Virginia; được hạ thủy vào ngày 3 tháng 12 năm 1936; được đỡ đầu bởi Cô Salome Clark, con gái Ngài Barzilla W. Clark, Thống đốc tiểu bang Idaho; và được đưa ra hoạt động vào ngày 12 tháng 8 năm 1938 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Benjamin Vaughan McCandlish.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm giữa hai cuộc thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 2 năm 1939, sau chuyến đi chạy thử máy đến Monrovia, LiberiaCape Town, Nam Phi, Boise gia nhập Hải đội Tuần dương 9 thuộc Lực lượng Chiến trận tại San Pedro, California. Cho đến tháng 11 năm 1941, nó luân phiên hoạt động ngoài khơi bờ Tây Hoa Kỳ và tại vùng biển Hawaii. Sau đó nó hộ tống một đoàn tàu vận tải đi Manila thuộc quần đảo Philippine, đến nơi vào ngày 4 tháng 12.

Chiến tranh Thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Khi chiến tranh nổ ra tại Philippines vào ngày 8 tháng 12 năm 1941, Boise đang ở ngoài khơi đảo Cebu. Nó gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 5 tại Đông Ấn thuộc Hà Lan, nhưng vào ngày 21 tháng 1 năm 1942, nó va phải một dãi đá ngầm không có trong hải đồ tại eo biển Sape, và bị buộc phải rút lui về Colombo, Ceylon; rồi đến Bombay, Ấn Độ; và cuối cùng là về Xưởng hải quân Mare Island để sửa chữa.

Sau khi việc sửa chữa hoàn tất, Boise lên đường vào ngày 22 tháng 6 năm 1942 để hộ tống một đoàn tàu vận tải đi đến Auckland, New Zealand. Sau đó nó quay trở về Trân Châu Cảng, và từ ngày 31 tháng 7 đến ngày 10 tháng 8 đã thực hiện một chuyến đi đánh phá tại vùng biển Nhật Bản như một đòn nghi binh thu hút sự chú ý của đối phương khỏi hoạt động chủ yếu tại Guadalcanal. Trong tháng 8, nó hộ tống một đoàn tàu vận tải đi đến FijiNew Hebrides. Từ ngày 14 đến ngày 18 tháng 9, nó hỗ trợ cho việc đổ bộ tăng cường lực lượng Thủy quân Lục chiến lên Guadalcanal. Trong trận chiến mũi Esperance, nó bị hỏa lực pháo của một tàu tuần dương Nhật Bản bắn trúng hầm đạn, làm thiệt mạng tất cả mọi người gần các tháp pháo số 1, 2 và 3 với tổng cộng 107 người tử trận. Dưới sự chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá "Mike" Moran, người sau đó được tặng thưởng Huân chương Chữ thập Hải quân do sự chỉ huy trong trận này, Boise quay trở về Xưởng hải quân Philadelphia, nơi nó được sửa chữa từ ngày 19 tháng 11 năm 1942 đến ngày 20 tháng 3 năm 1943.

Boise khởi hành vào ngày 8 tháng 6 năm 1943 hướng sang Địa Trung Hải, đi đến ngoài khơi Algiers, Algeria vào ngày 21 tháng 6. Từ ngày 10 tháng 7 đến ngày 18 tháng 8, nó hoạt động trong vai trò hộ tống và bắn pháo hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên Sicilia. Đến tháng 9, nó tham gia các cuộc đổ bộ lên chính bán đảo Ý ở Taranto vào ngày 910 tháng 9Salerno vào ngày 1219 tháng 9. Chiếc tàu tuần dương quay trở về thành phố New York vào ngày 15 tháng 11, rồi một lần nữa hướng sang khu vực Nam Thái Bình Dương, đi đến vịnh Milne, New Guinea vào ngày 31 tháng 12.

Boise đang nả pháo xuống các vị trí tại New Guinea

Từ tháng 1 đến tháng 9 năm 1944, Boise tham gia các hoạt động bắn phá và yểm trợ đổ bộ dọc theo bờ biển phía Bắc New Guinea. Sau đó, chiếc tàu tuần dương di chuyển lên phía Bắc khi mặt trận chuyển đến quần đảo Philippine, và nó đã tham gia các hoạt động tại khu vực này cho đến tháng 5 năm 1945, kể cả trận Leyte ngày 2024 tháng 10trận chiến eo biển Surigao trong khuôn khổ cuộc Hải chiến vịnh Leyte vào ngày 25 tháng 10 năm 1944.

Từ ngày 3 đến ngày 16 tháng 6 năm 1945, nó đưa Đại tướng Douglas MacArthur thực hiện một hành trình kéo dài 3.500 nmi (6.500 km) suốt khu vực Trung và Nam Philippine cho đến vịnh Brunei, Borneo, rồi lên đường quay về San Pedro, California, đến nơi vào ngày 7 tháng 7. Sau khi trải qua một đợt đại tu rồi huấn luyện cho đến tháng 10, Boise lên đường đi sang vùng bờ Đông vào ngày 3 tháng 10, đến New York vào ngày 20 tháng 10. Chiếc tàu tuần dương tiếp tục ở lại đây cho đến khi được cho ngừng hoạt động vào ngày 1 tháng 7 năm 1946.

Hải quân Argentine[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: ARA Nueve de Julio

Ngày 11 tháng 1 năm 1951, Boise, cùng với con tàu chị em Phoenix, được bán cho Argentina, nơi chúng được đưa ra hoạt động với tên gọi tương ứng là Nueve de Julio (Ngày 9 tháng 7, ngày Độc lập của Argentina) và Diecisiete de Octubre (sau được đổi tên thành General Belgrano).

Trong những năm phục vụ như một tàu chiến Argentine, nó từng tham gia vào cái gọi là cuộc Cách mạng Tự do (Revolución Libertadora), bắn phá các kho chứa dầu và căn cứ quân sự chung quanh thành phố dọc theo bờ biển Mar del Plata vào ngày 19 tháng 9 năm 1955. Nó vô tình bị chiếc tàu chị em ARA General Belgrano húc phải đang khi tập trận vào năm 1956, đưa đến việc hư hại cho cả hai chiếc tàu tuần dương.[3]

Nueve de Julio tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Argentine cho đến năm 1978, khi nó được cho ngừng hoạt động và kéo đến Nhật Bản để tháo dỡ.[4]

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Boise được tặng thưởng 11 Ngôi sao chiến đấu do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Whitley 1995, tr. 248
  2. ^ Fahey 1941, tr. 9
  3. ^ Historia de los Cruceros Argentinos (tiếng Tây Ban Nha)
  4. ^ Bonner 1996, tr. 41

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Morris, Frank Daniel (1943). "Pick out the biggest": Mike Moran and the men of the Boise. Houghton Mifflin Co. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]