USS Bremerton (CA-130)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


USS Bremerton
Tàu tuần dương USS Bremerton được trang bị đổ phục vụ trong Chiến tranh Triều Tiên
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Bremerton
Đặt tên theo: Bremerton, Washington
Đặt lườn: 1 tháng 2 năm 1943
Hạ thủy: 2 tháng 7 năm 1944
Đỡ đầu bởi: Elizabeth K. McGowan
Nhập biên chế: 29 tháng 4 năm 1945
Xuất biên chế: 29 tháng 7 năm 1960
Xóa đăng bạ: 1 tháng 10 năm 1973
Danh hiệu và
phong tặng:
2 × Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị tháo dỡ 11 tháng 7 năm 1974
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Baltimore
Trọng tải choán nước: 14.500 tấn (tiêu chuẩn)
17.000 tấn (đầy tải)
Độ dài: 205,3 m (673 ft 7 in)
Sườn ngang: 21,6 m (70 ft 10 in)
Độ cao: 34,4 m (112 ft 10 in) (cột ăn-ten)
Mớn nước: 7,3 m (23 ft 11 in)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số
4 × nồi hơi, áp lực 4.240 kPa (615 psi)
4 × trục
công suất 120.000 mã lực (89,5 MW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h)
Tầm xa: 18.500 km (10.000 hải lý) ở tốc độ 27,8 km/h (15 knot)
Tầm hoạt động: 2.250 tấn dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.146 (61 sĩ quan, 1085 thủy thủ)
Vũ trang: 9 × hải pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber (3×3)
12 × hải pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber đa dụng (6×2)
48 × pháo phòng không Bofors 40 mm
24 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp chính: 152 mm (6 inch)
sàn tàu: 76 mm (3 inch)
tháp pháo: 76–152 mm (3-6 inch)
tháp chỉ huy: 203 mm (8 inch)
Máy bay mang theo: 4 × máy bay Vought OS2U Kingfisher/Curtiss SC-1 Seahawk
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Bremerton (CA-130) là một tàu tuần dương hạng nặng lớp Baltimore được Hải quân Hoa Kỳ đưa ra hoạt động vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó hầu như chỉ hoạt động tại Thái Bình Dương, từng tham gia Chiến tranh Triều Tiên và được tặng thưởng hai Ngôi sao Chiến đấu tại đây trước khi ngừng hoạt động năm 1960 và bị bán để tháo dỡ năm 1974.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Là tàu chiến đầu tiên của Hải quân Mỹ được đặt tên theo thành phố Bremerton tại tiểu bang Washington, Bremerton được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng New York Shipbuilding CorporationCamden, New Jersey vào ngày 1 tháng 2 năm 1943. Nó được hạ thủy vào ngày 2 tháng 7 năm 1944, được đỡ đầu bởi Cô Elizabeth K. McGowan, và được đưa ra hoạt động vào ngày 29 tháng 4 năm 1945 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân John Boyd Mallard.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm 1940[sửa | sửa mã nguồn]

Bremerton rời Norfolk vào ngày 29 tháng 5 năm 1945 cho chuyến đi chạy thử máy tại vùng biển ngoài khơi vịnh Guantánamo, Cuba. Vào cuối giai đoạn chạy thử máy, nó phục vụ như là soái hạm của Đô đốc Jonas Ingram, Tổng tư lệnh Hạm đội Đại Tây Dương, trong chuyến đi thị sát Nam Mỹ. Nó quay trở về Hoa Kỳ và tham gia vào công việc thử nghiệm tại vịnh Casco, Maine, từ ngày 22 tháng 7 đến ngày 2 tháng 10 năm 1945.

Vào ngày 7 tháng 11 năm 1945, Bremerton lên đường đi vịnh Guantánamo tiếp tục việc huấn luyện, rồi được điều động sang Thái Bình Dương để phục vụ cùng Đệ Thất hạm đội. Nó đi đến Trân Châu Cảng vào ngày 15 tháng 12 năm 1945 rồi tiếp tục đến Inchon, Hàn Quốc vào ngày 4 tháng 1 năm 1946. Nó tiếp tục hoạt động tại Viễn Đông cho đến ngày 20 tháng 11 năm 1946, khi nó quay về đến San Pedro, California. Nó còn thực hiện một chuyến đi huấn luyện quân nhân dự bị ngoài khơi bờ Tây Hoa Kỳ trước khi được cho ngừng hoạt động và đưa về lực lượng dự bị tại San Francisco vào ngày 9 tháng 4 năm 1948.

Chiến tranh Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bremerton được cho tái hoạt động vào ngày 23 tháng 11 năm 1951. Sau một đợt huấn luyện ôn tập, nó gia nhập Đệ Thất hạm đội trong chuyến đi đầu tiên đến khu vực chiến sự tại Triều Tiên. Các khẩu pháo của nó đã bắn vào phòng tuyến đối phương ở Wonsan, Kojo, ChongjinChangjon Hang thuộc Triều Tiên. Vào ngày 13 tháng 9 năm 1952, nó được thay phiên để quay trở về Long Beach, California. Bảy tháng tiếp theo được dành cho việc đại tu, luyện tập và thực hành tác xạ; cho đến ngày 5 tháng 4 năm 1953, khi Bremerton rời Long Beach cho một lượt phục vụ cùng Đệ Thất hạm đội. Sau khi gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 77, nó đã nả pháo xuống các căn cứ, trại lính và đường sắt tại Triều Tiên.

Hoàn tất lượt phục vụ vào tháng 11 năm 1953, Bremerton quay trở về Long Beach và trải qua một đợt đại tu tại xưởng tàu. Sau khi công việc này hoàn tất, nó tiến hành một đợt huấn luyện khẩn trương trước khi lên đường cho một lượt bố trí mới tại Tây Thái Bình Dương vào ngày 14 tháng 5 năm 1954. Đến ngày 17 tháng 10 năm 1954, Bremerton quay trở về Long Beach, được nghỉ ngơi 30 ngày trước khi tiếp tục luyện tập và thực hành tác xạ ngoài khơi bờ biển Nam California.

Sau chiến tranh – Số phận[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 1 năm 1955, Bremerton đi đến Xưởng hải quân Mare Island tại Vallejo, California cho một đợt đại tu theo định kỳ, đồng thời nó cũng được nâng cấp để cải thiện khả năng sống sót và hiệu quả tác chiến.

Ngày 12 tháng 7 năm 1955, sau một đợt huấn luyện, Bremerton lại lên đường để phục vụ tại Viễn Đông. Trong chuyến đi đến Tây Thái Bình Dương lần này, Bremerton đã phục vụ như là soái hạm của Chuẩn đô đốc D. M. Tyree, Tư lệnh Hải đội Tuần Dương 1, sau đó được thay thế bởi Chuẩn đô đốc H. L. Collins. Trong hai tuần lễ của tháng 10, nó đã phục vụ như là soái hạm tạm thời của Phó đô đốc A. M. Pride, Tư lệnh Đệ Thất hạm đội, tại Keelung, Đài Loan. Trong lượt hoạt động tại Viễn Đông lần này, Bremerton đã tham gia năm chiến dịch cùng với Lực lượng Đặc nhiệm 77. Do thành tích hoạt động phối hợp với phe Quốc Gia của Đài Loan, nó được tặng thưởng Huân chương Phục vụ Trung Quốc thứ hai. Trong thời gian ở lại Đài Loan, thủy thủ đoàn của nó đã tham gia lễ kỷ niệm ngày cách mạng Song Thập của Trung Hoa dân quốc dưới sự chủ trì của Thống chế Tưởng Giới Thạch. Vào ngày 12 tháng 2 năm 1956, Bremerton lên đường quay trở về cảng nhà tại Long Beach, California.

Ngày 6 tháng 11 năm 1956, Bremerton rời Long Beach đi Viễn Đông một lần nữa, lần này ghé qua Melbourne, Australia nhân dịp Thế Vận Hội mùa Hè XVI. Ngoài ra, Bremerton còn ghé thăm bãi Ronondo, Monterey, Victoria, British Columbia, Seattle, Trân Châu Cảng, Guam, đảo san hô Kwajalein, các cảng Nhật Bản Yokosuka, Kobe, BeppuOkinawa, Keelung và Kaohsiung thuộc Đài Loan, ManillaOlongapo thuộc Philippines, Hong Kongvịnh Dingalan. Bremerton quay trở về Long Beach vào tháng 5 năm 1957.

Bremerton được cho ngừng hoạt động vào ngày 29 tháng 7 năm 1960; và được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 10 năm 1973. Nó được bán cho hãng Zidell Explorations Corp., tại Portland, Oregon vào ngày 11 tháng 7 năm 1974 để tháo dỡ.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Bremerton được tặng thưởng hai Ngôi sao Chiến đấu do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Triều Tiên.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]