USS Chester (CA-27)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Chester (CA-27) Mare Island Oct 1943.jpg
Tàu tuần dương USS Chester (CA-27) tại đảo Mare, tháng 10 năm 1943
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Đặt tên theo: Chester, Pennsylvania
Hãng đóng tàu: New York Shipbuilding Company, Camden, New Jersey
Hạ thủy: 3 tháng 7 năm 1929
Đỡ đầu bởi: J. T. Blain
Hoạt động: 24 tháng 6 năm 1930
Ngừng hoạt động: 10 tháng 6 năm 1946
Danh hiệu và
phong tặng:
11 Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị bán để tháo dỡ ngày 11 tháng 8 năm 1959
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Northampton
Trọng tải choán nước: 9.050 tấn (tiêu chuẩn)
Độ dài: 182,9 m (600 ft 3 in)
Sườn ngang: 20,1 m (66 ft 1 in)
Mớn nước: 5,0 m (16 ft 4 in) (trung bình)
7,0 m (23 ft) (tối đa)
Động cơ đẩy: 4 × Turbine hơi nước Parsons
8 × nồi hơi White-Forster
4 × trục
công suất 107.000 mã lực (79,8 MW)
Tốc độ: 60 km/h (32,5 knot)
Tầm xa: 24.000 km ở tốc độ 28 km/h
(13.000 hải lý ở tốc độ 15 knot)
Tầm hoạt động: Dầu đốt: 1.500 tấn
Thủy thủ đoàn: 872
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
Radar RCA CXAM[1]
Vũ trang: 9 × pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber Mark 10/11 (3×3)
8 × pháo 127 mm (5 inch)/25 caliber Mark 10[2]
32 × pháo phòng không Bofors 40 mm (4×4)
27 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp: 76 mm (3 inch) trên động cơ;
95 mm (3,75 inch) trên hầm đạn
sàn tàu: 25 mm (1 inch) trên động cơ;
50 mm (2 inch) trên hầm đạn
tháp pháo: mặt trước 63 mm (2,5 inch); nóc 50 mm (2 inch); hông và phía sau 19 mm (0,75 inch)
tháp súng nhỏ: 38 mm (1,5 inch)
Máy bay mang theo: 2 × thủy phi cơ SOC Seagull
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Chester (CA-27) là một tàu tuần dương hạng nặng của Hải quân Hoa Kỳ, là chiếc thứ hai trong lớp Northampton, và là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt cái tên này theo tên của thành phố Chester tại Pennsylvania. Được đưa vào hoạt động năm 1930, nó đã phục vụ tại Thái Bình Dương trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ hai, trước khi được cho ngừng hoạt động vào năm 1946 và được tháo dỡ vào năm 1949.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Vốn vẫn bị hạn chế về tải trọng và cỡ pháo bởi Hiệp ước Hải quân Washington, nhưng mang nhiều đặc tính cải tiến so với lớp Pensacola dẫn trước, lớp Northampton mang chín khẩu 203 mm (8 inch) trên ba tháp pháo ba nòng, một cách sắp xếp tối ưu được tiếp nối bởi mọi tàu tuần dương hạng nặng Hoa Kỳ sau này.

Chester được đặt lườn bởi hãng New York Shipbuilding Co. tại Camden, New Jersey. Nó được hạ thủy vào ngày 3 tháng 7 năm 1929, được đỡ đầu bởi Cô J. T. Blain, và được đưa ra hoạt động vào ngày 24 tháng 6 năm 1930 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Arthur Fairfield.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm giữa hai cuộc thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất, Chester được điều về Hạm đội Đại Tây Dương. Nó rời Newport, Rhode Island vào ngày 13 tháng 8 năm 1930 bắt đầu chuyến đi kéo dài đến Châu Âu; ghé qua Barcelona, Naples, Constantinopolis, vịnh PhaleronGibraltar trước khi quay trở về Chester, Pennsylvania ngày 13 tháng 10 để thực hiện các sửa chữa. Nó gia nhập Hạm đội Tuần tiễu như là soái hạm của Hải đội Tuần dương Hạng nhẹ, và vào ngày 6 tháng 3 năm 1931, đã đưa Bộ trưởng Hải quân đến khu vực kênh đào Panama nơi ông thị sát cuộc tập trận hạm đội từ trên thiết giáp hạm Texas. Chester đưa ngài Bộ trưởng quay trở lại Miami, Florida vào ngày 22 tháng 3, rồi lên đường hướng đến vịnh Narragansett cho các cuộc tập trận cùng nhiệm vụ hộ tống hai tàu tuần dương Pháp đến viếng thăm.

Sau một đợt đại tu tại xưởng hải quân New York nơi nó được trang bị hai máy phóng máy bay ở giữa tàu, Chester khởi hành từ Hampton Roads vào ngày 31 tháng 7 năm 1932 cùng với máy bay và đạn dược hướng sang Bờ Tây Hoa Kỳ. Nó đi đến San Pedro, California vào ngày 14 tháng 8 và tham gia gia các hoạt động thường xuyên của hạm đội tại đây. Rời San Pedro vào ngày 9 tháng 4 năm 1934 như là soái hạm của Tư lệnh Hải đội Đặc vụ, nó đi đến New York vào ngày 31 tháng 5 tham gia cuộc Duyệt binh Hạm đội Tổng thống, rồi quay trở về San Pedro vào ngày 9 tháng 11. Vào ngày 25 tháng 9 năm 1935, Chester đón lên tàu Bộ trưởng Chiến tranh cùng đoàn tùy tùng của ông trong chuyến đi đến Philippines liên quan đến buổi lễ nhậm chức của Tổng thống Thịnh vượng chung Philippines vào ngày 15 tháng 11. Quay trở về San Francisco vào ngày 14 tháng 12 năm 1935, nó tiếp tục các hoạt động thường xuyên cùng Hải đội Tuần dương 4.

Khởi hành từ San Francisco vào ngày 28 tháng 10 năm 1936, Chester đi đến Charleston, Nam Carolina vào ngày 13 tháng 11 rồi lại lên đường năm ngày sau đó để hộ tống tàu tuần dương Indianapolis cùng Tổng thống Franklin Delano Roosevelt trên tàu thực hiện chuyến đi thăm hữu nghị đến Buenos Aires thuộc ArgentinaMontevideo thuộc Uruguay. Chester quay trở về San Pedro vào ngày 24 tháng 12. Chester ở lại khu vực Bờ Tây tham gia các cuộc tập trận hạm đội cùng các chuyến đi huấn luyện đến các vùng biển Hawaii và Alaska từ năm 1937 ngoại trừ một chuyến đi đến khu vực Bờ Đông để tập trận và đại tu từ ngày 23 tháng 9 năm 1940 đến ngày 21 tháng 1 năm 1941. Chester là một trong sáu tàu chiến đầu tiên được trang bị kiểu radar mới RCA CXAM vào năm 1940.[1]

Đặt cảng nhà mới tại Trân Châu Cảng từ ngày 3 tháng 2, chiếc tàu tuần dương tiến hành tập trận tại vùng biển Hawaii, và thực hiện một chuyến đi đến Bờ Tây cùng với Tư lệnh Lực lượng Tuần tiễu từ ngày 14 tháng 5 đến ngày 18 tháng 6 năm 1941. Từ ngày 10 tháng 10 đến ngày 13 tháng 11, nó hộ tống hai tàu vận tải của Lục quân vận chuyển lực lượng tăng cường đến Manila thuộc Philippines. Trên đường quay trở về, nó gia nhập cùng tàu tuần dương chị em Northampton và tàu sân bay Enterprise, và đang ở ngoài biển trên đường quay trở về từ đảo Wake khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng.

Chester tiếp tục các cuộc tuần tra cùng với Lực lượng Đặc nhiệm 8 tại vùng biển Hawaii. Vào ngày 12 tháng 12, máy bay của nó ném bom vào một tàu ngầm, rồi hướng dẫn cho tàu khu trục Balch tiếp tục thả mìn sâu tấn công cho đến khi không tiếp xúc với đối phương nữa.

1942[sửa | sửa mã nguồn]

Chester hỗ trợ cho cuộc đổ bộ tăng cường lên Samoa từ ngày 18 đến ngày 24 tháng 1 năm 1942, rồi sau đó gia nhập Đội Đặc nhiệm 8.3 cho đợt không kích thành công xuống Taroa vào ngày 1 tháng 2. Phải rút lui dưới sự không kích ác liệt của đối phương, chiếc tàu tuần dương trúng phải một quả bom vào sàn tàu làm thiệt mạng tám người và bị thương 38 người khác. Nó quay về Trân Châu Cảng vào ngày 3 tháng 2 để sửa chữa.

Tiếp theo sau một chuyến đi hộ tống đến San Francisco, Chester gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 17 tiến hành không kích GuadalcanalTulagi vào ngày 4 tháng 5, tấn công đảo Misima thuộc quần đảo Louisiade ngày 7 tháng 5; và nó đã tham gia trận chiến biển Coral trong ngày 8 tháng 5 khi hỏa lực phòng không liên tục của nó đã bảo vệ các tàu sân bay khi chúng tung ra các cuộc không kích ngăn chặn lực lượng đổ bộ Nhật Bản đang hướng đến cảng Moresby thuộc New Guinea. Năm thành viên thủy thủ đoàn của Chester đã bị thương trong trận chiến này. Đến ngày 10 tháng 5, nó nhận lên tàu 478 người sống sót từ tàu sân bay Lexington từ tàu khu trục Hammann, và nó đã đưa lên bờ tại đảo Tonga vào ngày 15 tháng 5.

Sau một đợt đại tu tại khu vực Bờ Tây, Chester đi đến Nouméa vào ngày 21 tháng 9 năm 1942 để gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 62 chuẩn bị cho cuộc đổ bộ lên Funafuti thuộc quần đảo Ellice từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 10. Sau đó nó hướng về phía Nam, và trong khi di chuyển để hỗ trợ cho các hoạt động tại quần đảo Solomon, Chester trúng phải một ngư lôi phóng từ tàu ngầm Nhật Bản I-176[3] vào mạn phải ở giữa tàu vào ngày 20 tháng 10 làm thiệt mạng 11 người và bị thương 12 người khác. Nó quay về Espiritu Santo bằng chính động lực của nó để sửa chữa khẩn cấp vào ngày 23 tháng 10. Ba ngày sau, chiếc SS President Coolidge trúng phải một quả mìn, và Chester gửi các đội cứu hỏa và cứu hộ đến trợ giúp con tàu gặp nạn, cùng nhận lên tàu 440 người còn sống sót để chuyển đến Espiritu Santo. Nó đi đến Sydney, Australia vào ngày 29 tháng 10 để sửa chữa triệt để hơn, và nó khởi hành vào ngày Giáng Sinh quay về Norfolk cho một đợt đại tu toàn diện.

1943[sửa | sửa mã nguồn]

Quay trở về San Francisco vào ngày 13 tháng 9 năm 1943, Chester tiến hành hoạt động hộ tống giữa cảng này Trân Châu Cảng cho đến ngày 20 tháng 10. Vào ngày 8 tháng 11, nó rời Trân Châu Cảng tham gia cuộc tấn công quần đảo Marshalls. Nó hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên đảo Abemama và bắn phá mục tiêu đối phương trên các đảo Taroa, WotjeMaloelap.

1944[sửa | sửa mã nguồn]

Chester tiếp nối các nhiệm vụ tuần tra chống tàu ngầm và phòng không ngoài khơi Majuro cho đến ngày 25 tháng 4 năm 1944, khi nó khởi hành đi San Francisco cho một đợt đại tu ngắn từ ngày 6 đến ngày 22 tháng 5. Nó gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 94 tại đảo Adak thuộc Alaska vào ngày 27 tháng 5 để tiến hành bắn phá các công sự phòng thủ đối phương tại MatsuwaParamushiru thuộc quần đảo Kuriles vào các ngày 1326 tháng 6, rồi quay về Trân Châu Cảng, đến nơi vào ngày 13 tháng 8.

Chester khởi hành vào ngày 29 tháng 8 cùng với Đội Đặc nhiệm TG 12.5 để bắn phá đảo Wake vào ngày 3 tháng 9, sau đó đi đến Eniwetok vào ngày 6 tháng 9. Nó rời Saipan để tham gia bắn phá đảo Marcus vào ngày 9 tháng 10 trước khi gia nhập Đội Đặc nhiệm 38.1 thực hiện các cuộc không kích lên LuzonSamar để hỗ trợ cho các hoạt động tại Leyte cũng như truy tìm lực lượng đối phương sau trận chiến vịnh Leyte trong các ngày 2526 tháng 10.

1945[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 8 tháng 11 năm 1944 đến ngày 21 tháng 2 năm 1945, Chester hoạt động từ Ulithi và Saipan trong việc bắn phá Iwo Jimaquần đảo Bonin nhằm hỗ trợ cho các cuộctấn công đổ bộ vào ngày 19 tháng 2.

Sau một đợt đại tu khác tại Bờ Tây, Chester quay trở lại Ulithi vào ngày 21 tháng 6 và tiến hành các cuộc tuần tra ngoài khơi Okinawa từ ngày 27 tháng 6 cũng như hỗ trợ các hoạt động quét mìn ở phía Tây hòn đảo này. Vào cuối tháng 7, Chester được điều về lực lượng hỗ trợ trên không cho Đội Đặc nhiệm 95.2, lực lượng tấn công bờ biển ngoài khơi Đồng bằng sông Dương Tử và bảo vệ hoạt động quét mìn. Trong tháng 8, nó thực hiện một chuyến đi đến quần đảo Aleut, và vào ngày cuối cùng của tháng này nó lên đường tham gia cuộc đổ bộ chiếm đóng Ominato, Aomori, HakodateOtaru trong tháng 9tháng 10.

Sau chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Chester nhận lên tàu binh lính đang trú đóng tại Iwo Jima, và khởi hành vào ngày 2 tháng 11 hướng về San Francisco, và đến nơi vào ngày 18 tháng 11. Nó thực hiện một chuyến đi khác đến Guam để đưa về nhà các cựu chiến binh từ ngày 24 tháng 11 đến ngày 17 tháng 12, rồi tiếp tục khởi hành vào ngày từ ngày 14 tháng 1 năm 1946 hướng về Philadelphia, đến nơi vào ngày 30 tháng 1.

Chester được đưa về lực lượng dự bị tại Philadelphia vào ngày 10 tháng 6. Nó được bán để tháo dỡ vào ngày 11 tháng 8 năm 1959.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Chester được tặng thưởng 11 Ngôi sao Chiến đấu do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Bộ sưu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Macintyre, Donald, CAPT RN (tháng 9 năm 1967). Shipborne Radar. United States Naval Institute Proceedings. 
  2. ^ Fahey 1941, trang 9
  3. ^ Axis History Com

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]