USS Chicago (CA-136)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Chicago (CG-11).jpg
Tàu tuần dương USS Chicago trên đường đi tại Thái Bình Dương
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Chicago
Đặt tên theo: Chicago, Illinois
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Philadelphia
Đặt lườn: 28 tháng 7 năm 1943
Hạ thủy: 20 tháng 8 năm 1944
Đỡ đầu bởi: Bà Edward J. Kelly
Nhập biên chế: 10 tháng 1 năm 1945
Xuất biên chế: 1 tháng 3 năm 1980
Xếp lớp lại: 1 tháng 11 năm 1958
Xóa đăng bạ: 31 tháng 1 năm 1984
Số phận: Bán để tháo dỡ 9 tháng 12 năm 1991
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Baltimore (CA-136)
Lớp tàu tuần dương Albany (CG-11)
Trọng tải choán nước: 14.500 tấn (tiêu chuẩn)
17.000 tấn (đầy tải)
Độ dài: 205,3 m (673 ft 7 in)
Sườn ngang: 21,6 m (70 ft 10 in)
Độ cao: 34,4 m (112 ft 10 in) (cột ăn-ten)
Mớn nước: 7,3 m (23 ft 11 in)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số
4 × nồi hơi, áp lực 4.240 kPa (615 psi)
4 × trục
công suất 120.000 mã lực (89,5 MW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h)
Tầm xa: 18.500 km (10.000 hải lý) ở tốc độ 27,8 km/h (15 knot)
Tầm hoạt động: 2.250 tấn dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.146 (61 sĩ quan, 1085 thủy thủ)
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
Sau khi tái trang bị:
1 × radar dò mặt biển AN/SPS-10[1]
2 × AN/SPS-30 radar dò không trung [1]
1 × AN/SPS-43 radar dò không trung [1]
1 × AN/SPS-48 radar dò không trung [1]
4 × AN/SPG-49 radar kiểm soát hỏa lực Talos [1][2]
4 × AN/SPG-51 radar kiểm soát hỏa lực Tartar [1][2]
2 × Mark 35 radar kiểm soát hỏa lực pháo[1][2]
1 × sonar AN/SQS-23 [1]
Vũ trang: Ban đầu:9 × hải pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber (3×3)
12 × hải pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber đa dụng (6×2)
48 × pháo phòng không Bofors 40 mm
22 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Sau khi tái trang bị:
2 × ống phóng tên lửa RIM-8 Talos đối không nòng đôi (104 quả)
2 × ống phóng tên lửa RIM-24 Tartar đối không nòng đôi (84 quả)
1 × ống phóng tên lửa ASROC Mk-16 8 nòng
2 × hải pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber Mk 24[3]
6 × ống phóng ngư lôi Mk-32 (2×3)
Bọc giáp: đai giáp chính: 152 mm (6 inch)
sàn tàu: 76 mm (3 inch)
tháp pháo: 76–152 mm (3-6 inch)
tháp chỉ huy: 203 mm (8 inch)
Máy bay mang theo: 4 × máy bay Vought OS2U Kingfisher/Curtiss SC-1 Seahawk
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Chicago (CA-136/CG-11) là một tàu tuần dương hạng nặng thuộc lớp Baltimore của Hải quân Hoa Kỳ được đưa ra hoạt động vào giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ hai sắp kết thúc. Được cho ngừng hoạt động vào năm 1947, đến năm 1958 nó được cải biến thành một tàu tuần dương tên lửa điều khiển thuộc lớp Albany và tái hoạt động vào năm 1964. Từ năm 1966 đến năm 1972, Chicago đã năm lần được bố trí hoạt động tác chiến ngoài khơi Việt Nam. Nó được cho ngừng hoạt động vào năm 1980, được giữ lại lực lượng dự bị cho đến năm 1989, và cuối cùng được bán để tháo dỡ vào năm 1991.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Chicago được đặt lườn vào ngày 28 tháng 7 năm 1943 tại Philadelphia, Pennsylvania, bởi Xưởng hải quân Philadelphia. Nó được hạ thủy vào ngày 20 tháng 8 năm 1944, được đỡ đầu bởi Bà Edward J. Kelly, phu nhân Thị trưởng thành phố Chicago, Illinois; và được đưa ra hoạt động tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 10 tháng 1 năm 1945 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Richard R. Hartung.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh Thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Chicago trải qua sáu tuần đầu tiên chuẩn bị trước khi lên đường vào ngày 26 tháng 2 đi đến Norfolk. Sau khi tiến hành các hoạt động huấn luyện và hiệu chỉnh la bàn tại vịnh Chesapeake, nó lên đường vào ngày 12 tháng 3 đi đến vịnh Paria thuộc Trinidad. Đến nơi vào ngày 18 tháng 3, nó tiến hành huấn luyện và thực tập tác xạ bờ biển tại khu vực ngoài khơi Culebra, Puerto Rico, trước khi quay trở về Norfolk vào ngày 11 tháng 4. Sau các đợt khảo sát và huấn luyện chiến thuật, nó lên đường đi Philadelphia cho việc hiệu chỉnh sau thử máy vào ngày 16 tháng 4.

Chicago vào tháng 5 năm 1945.

Cùng với tàu khu trục Alfred A. Cunningham, chiếc tàu tuần dương mới khởi hành đi Caribbe vào ngày 7 tháng 5 trong hành trình hướng sang Thái Bình Dương. Được thiết kế để hoạt động cùng các lực lượng tấn công và đổ bộ, Chicago tận dụng thời gian di chuyển tiến hành nhiều hoạt động tập luyện phòng không, tác xạ và dò tìm mục tiêu bằng radar. Sau khi được tiếp nhiên liệu tại San Juan, Puerto Rico vào ngày 11 tháng 5, nó trải qua ba ngày tiến hành huấn luyện tác xạ trước khi lên đường đi Colon, Panama vào ngày 15 tháng 5. Băng qua kênh đào trong ngày hôm sau, nó đi đến Trân Châu Cảng vào ngày 31 tháng 5.

Tiếp theo sau một giai đoạn huấn luyện tác xạ, phòng không và bắn phá bờ biển khác ngoài khơi đảo Kahoolawe, chiếc tàu tuần dương lại lên đường vào ngày 28 tháng 6 hướng đến Eniwetok thuộc quần đảo Marshall. Cùng với thiết giáp hạm North Carolina, Chicago đi đến hòn đảo san hô vào ngày 5 tháng 7 và được tiếp nhiên liệu từ tàu chở dầu Pan American. Lên đường cùng ngày hôm đó, có tàu khu trục Stockham hộ tống trong nhiệm vụ chống tàu ngầm, nó gia nhập Đội đặc nhiệm 38.4 của Chuẩn đô đốc Radford ở về phía Bắc quần đảo Mariana vào ngày 8 tháng 7.

Được bổ sung vào lực lượng phòng không hộ tống, Chicago đã bảo vệ cho các tàu sân bay của đội đặc nhiệm khi chúng tiến hành không kích khu vực đồng bằng Tokyo, Honshū, Nhật Bản vào ngày 10 tháng 7. Sau khi được tiếp nhiên liệu trong ngày 12 tháng 7, đội đặc nhiệm quay trở lại khu vực bờ biển Nhật Bản tung các đợt không kích nhắm vào sân bay, tàu bè và tuyến đường sắt tại các khu vực phía Bắc Honshū và Hokkaidō vào ngày hôm sau.

Sang ngày 14 tháng 7, cùng các thiết giáp hạm South Dakota, IndianaMassachusetts, tàu tuần dương Quincy cùng chín tàu khu trục thuộc lực lượng bắn phá của Chuẩn đô đốc Shafroth, Chicago tiếp cận bờ biển phía Bắc Honshū để bắn phá khu vực công nghiệp Kamaishi. Lúc 12 giờ 12 phút, chiếc tàu tuần dương tham gia cùng các thiết giáp hạm nả pháo xuống nhà máy thép và nhà kho. Mặc dù khói bốc lên dày đặc cản trở việc chỉ điểm mục tiêu từ các thủy phi cơ trinh sát, sự phối hợp vạch trước mục tiêu qua không ảnh cùng với thông tin định vị bằng radar đã cho phép các khẩu pháo của Chicago bắn cháy nhiều tòa nhà và nhà kho, cũng như các kho dầu lân cận. Đến 12 giờ 51 phút, dàn pháo hạng hai của chiếc tàu tuần dương nổ súng vào một tàu nhỏ của Nhật Bản có kích cỡ một tàu khu trục hộ tống. Nó trúng đạn, bốc cháy và bị buộc phải rút lui trở vào cảng. Lực lượng đặc nhiệm rút lui lúc 14 giờ 26 phút, để lại cảng chìm trong biển khói.

Ngày hôm sau, Chicago hoạt động như một "tàu chở thủy phi cơ tạm thời" khi thiết giáp hạm Iowa chuyển các thủy phi cơ SC Seahawk của nó sang chiếc tàu tuần dương. Bằng cách treo một máy bay qua mạn tàu bằng cần cẩu, thủy thủ đoàn vẫn có thể phóng một thủy phi cơ Seahawk bằng máy phóng cho các hoạt động trinh sát. Sau các hoạt động tiếp tế trong ngày 16 tháng 7, nó tiếp tục hộ tống các tàu sân bay khi chúng tung ra các cuộc không kích xuống khu vực đồng bằng Tokyo, phía Bắc Honshū và Hokkaidō, cũng như khu vực Kure-Kobe trong hai tuần lễ tiếp theo.

Ngày 29 tháng 7, cùng với thiết giáp hạm Anh HMS King George V và nhiều thiết giáp hạm Hoa Kỳ, Chicago tham gia vào một cuộc bắn phá ban đêm xuống cảng Hamamatsu. Sử dụng radar và được hỗ trợ bởi máy bay trinh sát ném pháo sáng và rocket, lực lượng đã bắn pháo vào các cầu, nhà máy và nhà ga đường sắt trong hơn một giờ. Gia nhập lại lực lượng đặc nhiệm năm giờ sau đó, Chicago hộ tống các tàu sân bay khi chúng tiến hành không kích khu vực Tokyo-Nagoya.

Các hoạt động cùng với tàu sân bay, bao gồm một lần chuyển hướng về phía Nam nhằm né tránh một cơn bão, được tiếp tục cho đến ngày 9 tháng 8, khi lực lượng bắn phá của Chuẩn đô đốc Shafroth quay trở lại Kamaishi. Các thiết giáp hạm, được tháp tùng bởi Chicago, ba tàu tuần dương hạng nặng khác và một tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Hoàng gia Anh, tiến hành cuộc bắn phá kéo dài hai giờ xuống thị trấn trước khi quay trở lại lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay.

Trong sáu ngày tiếp theo, chiếc tàu tuần dương hộ tống các tàu sân bay khi chúng tung ra các cuộc không kích liên tục xuống các đảo chính quốc Nhật Bản cho đến ngày 15 tháng 8, khi Nhật Bản chấp nhận đầu hàng. Chicago tiếp tục ở lại cùng các tàu sân bay cho đến ngày 23 tháng 8, khi nó hướng đến Nhật Bản. Thả neo tại Sagami Wan vào ngày 27 tháng 8, rồi di chuyển vào vịnh Tokyo ngày 3 tháng 9, chiếc tàu tuần dương hỗ trợ vào việc chất dỡ thiết bị và tiếp liệu cho lực lượng chiếm đóng của Đệ Tam hạm đội.

Sau chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chuyển 47 người cùng đội thủy binh phối thuộc đến hoạt động tại Căn cứ Hải quân Yokosuka, Chicago ở lại cảng cho đến ngày 23 tháng 10, khi nó lên đường làm nhiệm vụ giải giới quần đảo Izu. Trong gần hai tuần tiếp theo, các nhóm thị sát đã giúp lực lượng Nhật Bản trú đóng tại O ShimaNii Shima phá hủy các khẩu pháo, kho đạn và các thiết bị quân sự khác trên các đảo này. Ba ngày sau, 7 tháng 11, chiếc tàu tuần dương lên đường quay về San Pedro, California.

Về đến nơi vào ngày 23 tháng 11, Chicago trải qua đợt đại tu tại Xưởng hải quân San Pedro trước khi trở sang Viễn Đông. Lên đường vào ngày 24 tháng 1 năm 1946, chiếc tàu tuần dương đến Thượng Hải vào ngày 18 tháng 2 làm nhiệm vụ chiếm đóng. Nó ở lại đây cho đến ngày 28 tháng 3 trong vai trò soái hạm của lực lượng Tuần tra Dương tử, rồi lên đường đi Sasebo, Nhật Bản, nơi nó trở thành soái hạm của Lực lượng Hải quân Hỗ trợ tại vùng biển Đế quốc Nhật Bản. Chiếc tàu chiến còn ghé thăm nhiều cảng Nhật Bản khác trước khi khởi hành vào ngày 14 tháng 1 năm 1947 đi về Bờ Tây Hoa Kỳ. Di chuyển đến Xưởng hải quân Puget Sound, chiếc tàu tuần dương được cho xuất biên chế vào ngày 6 tháng 6 năm 1947 để đưa về lực lượng dự bị.

Tái cấu trúc thành tàu tuần dương tên lửa điều khiển[sửa | sửa mã nguồn]

USS Chicago (CG-11) đi vào hoạt động, ngày 2 tháng 5 năm 1964.

Vào ngày 1 tháng 11 năm 1958, Chicago được xếp lại lớp với ký hiệu mới CG-11, và được kéo đến Xưởng hải quân San Francisco bắt đầu công việc cải biến thành một tàu tuần dương tên lửa điều khiển vốn kéo dài đến 5 năm. Bắt đầu từ ngày 1 tháng 7 năm 1959, toàn bộ cấu trúc thượng tầng được tháo dỡ, thay thế bằng những ngăn làm bằng nhôm, bổ sung thiết bị điện tử hiện đại, trung tâm thông tin hành quân được trang bị một Hệ thống Thông tin Chiến thuật Hải quân (NTDS: Naval Tactical Data System) cải tiến. Tiêu biểu cho sự tập trung vào kỹ thuật tên lửa điều khiển mới, Chicago được trang bị các hệ thống tên lửa đất-đối-không RIM-24 TartarRIM-8 Talos, bao gồm hầm chứa, thiết bị nạp, bệ phóng và hệ thống dẫn đường. Ngoài ra nó còn có các ống phóng ngư lôi ba nòng, hai ống phóng tên lửa ASROC chống tàu ngầm, hai Hải pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber và hai máy bay trực thăng chống tàu ngầm.

Được thiết kế để bảo vệ trên không, trên biển và dưới nước tầm xa cho lực lượng đặc nhiệm, Chicago được tái biên chế trở lại tại Xưởng hải quân San Francisco vào ngày 2 tháng 5 năm 1964, và được điều về Chi hạm đội Tuần dương-Khu trục 9 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương. Các cuộc chạy thử nghiệm thu sơ khởi được tiến hành suốt mùa Hè cho đến ngày 2 tháng 9, khi Chicago chính thức gia nhập Đệ Nhất hạm đội như một đơn vị hoạt động. Sau khi được hiệu chỉnh thiết bị sonar tại Puget Sound chiếc tàu tuần dương đi đến cảng nhà San Diego, California bắt đầu việc chuẩn nhận các hệ thống vũ khí. Việc xem xét và đánh giá các hệ thống tên lửa mới hoàn tất vào ngày 2 tháng 12, tiếp nối bằng các cuộc thử nghiệm thành công tại Khu vực thử nghiệm tên lửa Thái Bình Dương ngoài khơi phía Nam California.

Vào ngày 4 tháng 1 năm 1965, nó chuyển sang Long Beach, California để bắt đầu một loạt các thử ngghiệm ngoài khơi đảo San Clemente; việc thử nghiệm thiết bị cùng các cuộc thực tập kiểm soát hư hỏng hoàn tất vào giữa tháng 1. Sau đó Chicago rời khu vực đi đến San Francisco thực hiện một số cải tiến, nâng cấp hệ thống tên lửa Tartar cùng các thiết bị điện tử cải tiến. Nó quay về San Diego vào ngày 17 tháng 4.

Trong hai tháng tiếp theo sau, Chicago tiếp tục công việc thử máy, huấn luyện cơ khí, hoa tiêu cùng các cuộc thực hành tên lửa và điện tử. Đến giữa tháng 6, Nó bắt đầu việc thử nghiệm phát triển kiểm soát hỏa lực tên lửa Talos cùng với Phòng thí nghiệm Điện tử Hải quân. Công việc này, cùng với các thử nghiệm saau đó, nhằm giúp cải tiến việc dẫn đường và thử nghiệm việc nạp lại tên lửa ngoài biển.

Trong cuộc tập trận hạm đội "Hot Stove" vào tháng 8tháng 9, Chicago thực hành các hoạt động phòng không và chống tàu ngầm, bao gồm việc phóng tên lửa ASROC và ngư lôi từ ống phóng vào tàu ngầm "đối phương" dưới nước. Tiếp theo sau một cuộc thực tập phản công điện tử, Chicago tham gia một cuộc thực tập bắn tên lửa cạnh tranh và giành được giải thưởng cho khẩu đội Tartar của mình. Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 10, nó tham gia một cuộc tập trận phòng không khác, lần này bắn rơi hai mục tiêu giả bay nhanh ở tầm cao bằng tên lửa Talos và Tartar.

Sau một chuyến đi đến Hawaii từ ngày 19 tháng 10 đến ngày 3 tháng 11 năm 1965, trong đó chiếc tàu tuần dương huấn luyện thực hành chia sẻ dữ liệu chiến thuật cùng với tàu sân bay Kitty Hawk và tàu khu trục Mahan, Chicago tiếp tục thử nghiệm và thực hành tại khu vực San Diego. Các hoạt động tại chỗ tiếp nối suốt mùa Xuân, bao gồm những thử nghiệm đánh giá tên lửa, suốt tháng 2 năm 1966. Quay trở về San Diego vào ngày 4 tháng 3, con tàu trải qua đợt khảo sát nghiệm thu nồi hơi, điện tử và chiến tranh hạt nhân, cũng như mức độ sẵn sàng hoat động và nắm vững kỹ thuật. Trong tháng 4, nó tham gia cuộc tập trận "Gray Ghost" trong vai trò soái hạm chiến thuật của tư lệnh chiến tranh phòng không, Chuẩn Đô đốc Elmo R. Zumwalt, Jr..

Đến Việt Nam lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 12 tháng 5 năm 1966, Chicago lên đường cho đợt bố trí hoạt động đầu tiên tại Việt Nam. Sau khi ghé qua Trân Châu Cảng và Yokosuka, nơi một ăn-ten radar mới được trang bị, nó đi đến Căn cứ Hải quân vịnh Subic vào ngày 12 tháng 6. Tiếp nhận những máy bay trực thăng được phối thuộc, chiếc tàu tuần dương lên đường vào ngày hôm sau để hoạt động cùng Lực lượng Đặc nhiệm 77 tại trạm Yankee trong vịnh Bắc bộ.

Vào ngày 15 tháng 6, Chicago bắt đầu hoạt động đánh giá khái niệm khảo sát radar cho mọi hoạt động không lực của Hải quân Mỹ trên khu vực được chỉ định trong vịnh Bắc bộ và Bắc Việt Nam. Được đặt tên PIRAZ, ("positive identification and radar advisory zone": khu vực nhận diện và tư vấn radar chủ động),[4] vai trò ban đầu theo dõi máy bay bạn được mở rộng bao gồm máy bay của Không quân Mỹ, kiểm soát những phi vụ tuần tra chiến đấu ngăn chặn, tư vấn cho máy bay hỗ trợ, và phối hợp thông tin tấn công cùng với trung tâm báo cáo của Không quân Mỹ tại Đà Nẳng, Nam Việt Nam. Sau một chuyến viếng thăm cảng Hong Kong, nơi con tàu phải né tránh một cơn bão vào ngày 17 tháng 7, nó quay trở lại trạm Yankee vào ngày 29 tháng 7.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e Blackman, Raymond V. B. Jane's Fighting Ships (1970/71) p.424
  2. ^ a ă â Polmar, Norman "The U.S. Navy: Shipboard Radars" United States Naval Institute Proceedings December 1978 p.144
  3. ^ United States Naval Institute Proceedings December 1964 p.162
  4. ^ An Unclassified Summary Of PIRAZ (1968).