USS Chicago (CA-29)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Chicago (CL-29).jpg
Tàu tuần dương USS Chicago trên đường đi ngoài khơi thành phố New York, trong cuộc Duyệt binh Hạm đội ngày 31 tháng 5 năm 1934
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Đặt tên theo: Chicago, Illinois
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Mare Island
Hạ thủy: 10 tháng 4 năm 1930
Đỡ đầu bởi: E. Britten
Hoạt động: 9 tháng 3 năm 1931
Danh hiệu và
phong tặng:
3 Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị đánh chìm trong trận đảo Rennell ngày 30 tháng 1 năm 1943
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Northampton
Trọng tải choán nước: 9.050 tấn (tiêu chuẩn)
Độ dài: 182,9 m (600 ft 3 in)
Sườn ngang: 20,1 m (66 ft 1 in)
Mớn nước: 5,0 m (16 ft 4 in)
Động cơ đẩy: 4 × Turbine hơi nước Parsons
8 × nồi hơi White-Forster
4 × trục
công suất 107.000 mã lực (79,8 MW)
Tốc độ: 60 km/h (32,5 knot)
Tầm xa: 24.000 km ở tốc độ 28 km/h
(13.000 hải lý ở tốc độ 15 knot)
Tầm hoạt động: Dầu đốt: 1.500 tấn
Thủy thủ đoàn: 621
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
Radar RCA CXAM[1]
Vũ trang: 9 × pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber Mark 10/11 (3×3)
4 × pháo 127 mm (5 inch)/25 caliber Mark 10[2]
6 × ống phóng ngư lôi 533 mm
Bọc giáp: đai giáp: 76 mm (3 inch) trên động cơ;
95 mm (3,75 inch) trên hầm đạn
sàn tàu: 25 mm (1 inch) trên động cơ;
50 mm (2 inch) trên hầm đạn
tháp pháo: mặt trước 63 mm (2,5 inch); nóc 50 mm (2 inch); hông và phía sau 19 mm (0,75 inch)
tháp súng nhỏ: 38 mm (1,5 inch)
Máy bay mang theo: 2 × thủy phi cơ

USS Chicago (CA-29) là một tàu tuần dương hạng nặng của Hải quân Hoa Kỳ, là chiếc thứ tư trong lớp Northampton, và là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt cái tên này theo tên của thành phố Chicago thuộc tiểu bang Illinois. Nó đã phục vụ tại Thái Bình Dương khi Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra tại đây, và sau khi sống sót qua cuộc tấn công bởi tàu ngầm bỏ túi Nhật Bản tại cảng Sydney, và hoạt động trong các trận biển Coralđảo Savo trong năm 1942, nó bị ngư lôi Nhật đánh chìm trong trận chiến đảo Rennell tại quần đảo Solomon vào ngày 30 tháng 1 năm 1943.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Vốn vẫn bị hạn chế về tải trọng và cỡ pháo bởi Hiệp ước Hải quân Washington, nhưng mang nhiều đặc tính cải tiến so với lớp Pensacola dẫn trước, lớp Northampton mang chín khẩu 203 mm (8 inch) trên ba tháp pháo ba nòng, một cách sắp xếp tối ưu được tiếp nối bởi mọi tàu tuần dương hạng nặng Hoa Kỳ sau này.

Chicago được đặt lườn tại Xưởng hải quân Mare Island. Nó được hạ thủy vào ngày 10 tháng 4 năm 1930, được đỡ đầu bởi E. Britten, và được đưa ra hoạt động vào ngày 9 tháng 3 năm 1931 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Manley Hale Simons.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm giữa hai cuộc thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chuyến đi chạy thử máy kéo dài đến tận Honolulu, TahitiSamoa, Chicago rời Xưởng hải quân Mare Island vào ngày 27 tháng 7 năm 1931 hướng sang Bờ Đông Hoa Kỳ, đi đến vịnh Fort Pond, New York, vào ngày 16 tháng 8. Tại đây, nó trở thành soái hạm của Tư lệnh Hải đội Tuần dương của Lực lượng Tuần tiễu, và hoạt động cùng với đơn vị này cho đến năm 1940.

Vào tháng 2 năm 1932, Chicago tiến hành thực tập tác xạ cùng các con tàu khác của Lực lượng Tuần Tiễu trước khi tiến hành tập trận Vấn đề Hạm đội XIII ngoài khơi bờ biển California. Từ đó, hạm đội đặt căn cứ tại khu vực Bờ Tây Hoa Kỳ, và cho đến năm 1934 hoạt động tại Thái Bình Dương trải dài từ Alaska đến khu vực kênh đào Panamaquần đảo Hawaii. Vào năm 1934, cuộc tập trận hạm đội hàng năm được tổ chức tại vùng biển Caribbe, được tiếp nối trong tháng 5 năm 1934 bằng cuộc Duyệt binh Hạm đội Tổng thống tại Cảng New York. Lực lượng Tuần tiễu hoạt động dọc theo Bờ Đông và khu vực Caribbe cho đến tháng 10 trước khi quay về căn cứ của chúng tại San Pedro, California. Chicago là một trong số sáu tàu chiến được trang bị kiểu radar mới RCA CXAM vào năm 1940.[1] Chicago tiếp tục hoạt động ngoài khơi San Pedro cho đến ngày 29 tháng 9 năm 1940, khi nó khởi hành đi Trân Châu Cảng.

Trong 14 tháng tiếp theo, Chicago hoạt động ngoài khơi Trân Châu Cảng, thực tập cùng với nhiều lực lượng khác nhau nhằm phát triển chiến thuật và đội hình tuần dương, thực hiện những chuyến đi đến Australia và vùng Bờ Tây Hoa Kỳ.

Mở màn chiến tranh thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941, Chicago đang ở ngoài biển cùng với Lực lượng Đặc nhiệm 12, đã lập tức tiến hành một đợt truy tìm càn quét kéo dài năm ngày trong khu vực tam giác Oahu-Johnston-Palmyra tìm cách đánh chặn đối phương. Lực lượng này quay trở về Trân Châu Cảng vào ngày 12 tháng 12; và sau đó Chicago hoạt động cùng với Lực lượng Đặc nhiệm 11 trong nhiệm vụ tuần tra truy quét từ ngày 14 đến ngày 27 tháng 12.

Ngày 2 tháng 2 năm 1942, Chicago rời Trân Châu Cảng hướng đến vịnh Suva nơi nó tham gia Hải đội ANZAC mới được thành lập, sau này được đổi tên thành Lực lượng Đặc nhiệm 44. Trong tháng 3tháng 4, chiếc tàu tuần dương hoạt động ngoài khơi quần đảo Louisiade, hỗ trợ cho các cuộc đổ bộ lên LaeSalamaua thuộc New Guinea. Ở một vị trí chiến lược có thể đánh chặn các đơn vị tàu nổi đối phương mưu toan tấn công cảng Moresby, Chicago còn hỗ trợ cho cuộc đổ quân của lực lượng Mỹ xuống New Caledonia.

Ngày 1 tháng 5, Chicago được lệnh đi đến Nouméa gia nhập lực lượng Tây Nam Thái Bình Dương, và vào ngày 4 tháng 5, nó hỗ trợ cho tàu sân bay Yorktown tiến hành không kích lực lượng Nhật Bản tại Tulagi thuộc quần đảo Solomon trong trận chiến biển Coral. Vào ngày 7 tháng 5, chiếc tàu tuần dương cùng với Lực lượng Hỗ trợ đã đánh chặn lực lượng Nhật Bản dự tính đổ bộ lên cảng Moresby. Ngày hôm sau, lực lượng chịu đựng nhiều cuộc không kích ác liệt, trong đó Chicago chịu đựng nhiều thương vong do hỏa lực càn quét, nhưng vẫn có thể đẩy lui máy bay đối phương và tiếp tục cuộc tấn công cho đến khi lực lượng tàu nổi Nhật Bản phải rút lui.

Bị tấn công tại cảng Sydney[sửa | sửa mã nguồn]

Trong đêm 31 tháng 5-1 tháng 6, trong khi ở lại trong cảng Sydney tại Australia, Chicago đã nổ súng tấn công tàu ngầm bỏ túi Nhật Bản. Thuyền trưởng của Chicago, Howard D. Bode, đang ở trên bờ khi con tàu của ông nổ súng, và thoạt tiên tỏ vẻ hoài nghi. Sau khi quay trở lại tàu, ông buộc tội các sĩ quan trên tàu đã uống rượu, cho đến khi sự hiện hữu của những chiếc tàu ngầm được xác nhận.[3] Trong đêm đó, ba tàu ngầm bỏ túi được tung ra từ các tàu ngầm mẹ đã tìm cách lọt vào cảng Sydney. Một chiếc vướng vào lưới chống tàu ngầm ở lối ra vào, hai chiếc lọt qua được trong đó một chiếc bị hư hại bởi mìn sâu và chiếc kia tìm cách phóng hai quả ngư lôi nhắm vào Chicago. Một quả ngư lôi trượt qua gần Chicago và phá hủy một tàu chiến Hải quân Hoàng gia Anh khác neo đậu gần đó, trong khi quả thứ hai không phát nổ và trượt lên bờ ở đảo Garden, New South Wales.[4] Nhiệm vụ chủ yếu dành cho thủy thủ đoàn trên các tàu ngầm bỏ túi Nhật là nhằm đánh chìm Chicago, vốn đã bị thất bại.[5]

Trận chiến đảo Savo[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tháng 6tháng 7 năm 1942, Chicago tiếp tục hoạt động tại khu vực Tây Nam Thái Bình Dương. Trong các ngày 7 đến 9 tháng 8, nó hỗ trợ cho cuộc đổ bộ ban đầu lên Guadalcanal và các đảo khác thuộc quần đảo Solomon, bắt đầu cuộc phản công của quân Đồng Minh chống lại Nhật Bản. Ngày 9 tháng 8, nó tham gia Trận chiến đảo Savo. Ngay vào đầu trận đánh, một quả ngư lôi của tàu tuần dương đối phương đã đánh trúng và gây hư hại nhẹ cho mũi con tàu. Chicago nhanh chóng mất dấu đối phương và không còn đóng vai trò gì trong trận chiến nữa. Hoạt động của Thuyền trưởng Bode trong trận này bị nghi ngờ do một cuộc điều tra sau đó do Đô đốc Hepburn đứng đầu. Cho dù bản báo cáo không được dự định tuyên bố công khai, bản thân Bode biết được sự liên can và đã tự sát vào ngày 19 tháng 4 năm 1943, và chết một ngày sau đó.[6]

Sau trận chiến đảo Savo, Chicago được sửa chữa tại Nouméa, rồi tại Sydney, và cuối cùng là ở San Francisco, nơi nó quay về vào ngày 13 tháng 10.[7]

Trận chiến đảo Rennell[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đầu tháng 1 năm 1943, Chicago rời San Francisco một lần nữa hướng đến khu vực chiến sự Nam Thái Bình Dương. Ngày 27 tháng 1, nó khởi hành từ Nouméa hộ tống một đoàn tàu vận tải tiếp tế cho Guadalcanal. Đêm 29 tháng 1, khi những con tàu tiến đến gần hòn đảo đang bị tranh chấp quyết liệt này, máy bay Nhật tấn công vào lực lượng, và Trận chiến đảo Rennell nổ ra. Trong cuộc tấn công, hai chiếc máy bay Nhật bị bắn cháy bừng đã soi rọi bóng chiếc Chicago, khiến nó trở thành mục tiêu của cuộc tấn công bằng ngư lôi tiếp theo; hai quả đánh trúng đã làm mất động lực con tàu và gây ngập nước nặng. Vào lúc cuộc tấn công kết thúc, công việc kiểm soát hư hỏng đã thành công khi độ nghiêng của Chicago đã dừng lại. Chiếc tàu tuần dương chị em Louisville đã tìm cách kéo con tàu bị hư hại bằng cáp, trước khi được thay phiên bởi chiếc Navajo vào sáng hôm sau. Tuy nhiên vào lúc xế trưa, lực lượng Nhật Bản lại mở cuộc tấn công, mà mặc dù bị thiệt hại nặng nề, vẫn tìm cách đánh trúng chiếc tàu tuần dương đã hư hại thêm bốn quả ngư lôi nữa, khiến nó chìm tại tọa độ 11°25′N 160°56′Đ / 11,417°N 160,933°Đ / -11.417; 160.933 (USS Chicago)Tọa độ: 11°25′N 160°56′Đ / 11,417°N 160,933°Đ / -11.417; 160.933 (USS Chicago).

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Chicago được tặng thưởng 3 Ngôi sao Chiến đấu do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Macintyre, Donald, CAPT RN (tháng 9 năm 1967). Shipborne Radar. United States Naval Institute Proceedings. 
  2. ^ Fahey 1941, trang 9
  3. ^ Grose, P., 2007, A Very Rude Awakening: The Night Japanese Midget Submarines Came to Sydney Harbour, Allen & Unwin, Australia, p. 134
  4. ^ Features
  5. ^ http://en.wikipedia.org/wiki/Image:WatsonsBay0201.JPG
  6. ^ Grose, A Very Rude Awakening, pp. 259-60.
  7. ^ http://www.history.navy.mil/photos/sh-usn/usnsh-c/ca29.htm www.history.navy.mil

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]