USS Columbus (CA-74)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Columbus (CA-74)
Tàu tuần dương USS Columbus ngoài khơi Tây Ban Nha, năm 1948
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Columbus
Đặt tên theo: Columbus, Ohio
Đặt hàng: 9 tháng 9 năm 1940
Hãng đóng tàu: Xưởng tàu Fore River của hãng Bethlehem Shipbuilding Corporation, Quincy, Massachusetts
Đặt lườn: 28 tháng 6 năm 1943
Hạ thủy: 30 tháng 11 năm 1944
Đỡ đầu bởi: Bà E. G. Meyers
Nhập biên chế: 8 tháng 6 năm 1945
Xuất biên chế: 31 tháng 1 năm 1975
Xếp lớp lại: 30 tháng 9 năm 1959 (CG-12)
Xóa đăng bạ: 9 tháng 8 năm 1976
Số phận: Bị tháo dỡ 3 tháng 10 năm 1977
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Baltimore (CA-74)
Lớp tàu tuần dương Albany (CG-12)
Trọng tải choán nước: 14.500 tấn (tiêu chuẩn)
17.000 tấn (đầy tải)
Độ dài: 205,3 m (673 ft 7 in)
Sườn ngang: 21,6 m (70 ft 10 in)
Độ cao: 34,4 m (112 ft 10 in) (cột ăn-ten)
Mớn nước: 7,3 m (23 ft 11 in)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số
4 × nồi hơi, áp lực 4.240 kPa (615 psi)
4 × trục
công suất 120.000 mã lực (89,5 MW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h)
Tầm xa: 18.500 km (10.000 hải lý) ở tốc độ 27,8 km/h (15 knot)
Tầm hoạt động: 2.250 tấn dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.146 (61 sĩ quan, 1085 thủy thủ)
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
CG-12: radar dò không trung AN/SPS-48 3D
radar dò mặt đất AN/SPS-43, AN/SPS-30, AN/SPS-10
radar kiểm soát hỏa lực AN/SPG-49 dành cho Talos
radar kiểm soát hỏa lực AN/SPG-51 dành cho Tartar
sonar AN/SQS-23 trước mũi
Vũ trang: CA-74: 9 × hải pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber (3×3)
12 × hải pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber đa dụng (6×2)
48 × pháo phòng không Bofors 40 mm
24 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
CG-12: 2 × bệ phóng tên lửa Mk 12 nòng đôi dành cho tên lửa đất-đối-không RIM-8 Talos (104 quả)
2 × bệ phóng tên lửa Mk 11 nòng đôi dành cho tên lửa đất-đối-không RIM-24 Tartar (84 quả)
1 × bệ phóng tên lửa Mk 112 ASROC tám nòng
2 × hải pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber đa dụng
2 × ống phóng ngư lôi Mk 32 ba nòng
Bọc giáp: đai giáp chính: 152 mm (6 inch)
sàn tàu: 76 mm (3 inch)
tháp pháo: 76–152 mm (3-6 inch)
tháp chỉ huy: 203 mm (8 inch)
Máy bay mang theo: 4 × máy bay Vought OS2U Kingfisher/Curtiss SC-1 Seahawk (tháo dỡ khi cải biến)
Thiết bị bay: 2 × máy phóng (tháo dỡ khi cải biến)

USS Columbus (CA-74/CG-12) là một tàu tuần dương hạng nặng thuộc lớp Baltimore của Hải quân Hoa Kỳ, là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Mỹ được đặt cái tên này theo tên nhà thám hiểm hàng hải Christopher Columbus và tên thành phố Columbus thuộc tiểu bang Ohio. Được hoàn tất quá trễ để có thể tham gia Chiến tranh Thế giới thứ hai, nó hoạt động sau chiến tranh, thoạt tiên tại Thái Bình Dương và sau đó là tại Địa Trung Hải, trước khi được cải biến thành một tàu tuần dương tên lửa điều khiển thuộc lớp Albany vào năm 1959 với ký hiệu mới CG-12. Nó lại tiếp tục hoạt động, chủ yếu là tại Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, cho đến khi ngừng hoạt động vào năm 1975 và tháo dỡ vào năm 1977.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Columbus được đặt lườn tại Xưởng tàu Fore River của hãng Bethlehem Steel Co.Quincy, Massachusetts vào ngày 28 tháng 6 năm 1943. Nó được hạ thủy vào ngày 30 tháng 11 năm 1944, được đỡ đầu bởi Bà E. G. Meyers; và được đưa ra hoạt động vào ngày 8 tháng 6 năm 1945 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Allen Hobbs.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

CA-74 (1944-1959)[sửa | sửa mã nguồn]

Gia nhập Thái Bình Dương, Columbus đi đến Thanh Đảo, Trung Quốc, vào ngày 13 tháng 1 năm 1946 đảm trách nhiệm vụ chiếm đóng. Vào ngày 1 tháng 4 nó giúp vào việc đánh chìm 24 tàu ngầm chiến lợi phẩm chiếm được của Hải quân Đê quốc Nhật Bản, và ngày hôm sau lên đường đi San Pedro, California. Trong thời gian còn lại của năm, nó hoạt động tại vùng biển Bờ Tây Hoa Kỳ, rồi thực hiện một chuyến đi khác đến Viễn Đông từ ngày 15 tháng 1 đến ngày 12 tháng 6 năm 1947.

Sau các hoạt động khác tại vùng Bờ Tây và một đợt đại tu tại Xưởng hải quân Puget Sound, Columbus rời Bremerton ngày 12 tháng 4 năm 1948 để gia nhập Hạm đội Đại Tây Dương, đi đến Norfolk, Virginia vào ngày 19 tháng 5. Columbus thực hiện hai chuyến đi trong vai trò soái hạm của Tổng tư lệnh lực lượng hải quân Đông Đại Tây Dương và Địa Trung Hải từ ngày 13 tháng 9 năm 1948 đến 15 tháng 12 năm 194912 tháng 6 năm 1950 đến 5 tháng 10 năm 1951; cùng một lần là soái hạm của Tư lệnh Tối cao Đồng Minh tại Địa Trung Hải trong cuộc tập trận Chiến dịch Mainbrace của khối NATO từ ngày 25 tháng 8 đến ngày 29 tháng 9 năm 1952. Nó thực hiện chuyến đi đến Địa Trung Hải từ tháng 10 năm 1952 đến tháng 1 năm 1953, một phần thời gian đó là soái hạm của Đệ Lục hạm đội. Giờ đây là soái hạm của Hải đội Tuần dương 6, nó quay lại khu vực Địa Trung Hải tư tháng 9 năm 1954 đến tháng 1 năm 1955. Giữa các đợt bố trí này, Columbus được đại tu cần thiết cùng các hoạt động huấn luyện dọc theo Bờ Đông Hoa Kỳ và tại vùng biển Caribbe.

Được bố trí trở lại khu vực Thái Bình Dương, Columbus rời Boston, Massachusetts vào ngày 8 tháng 11 năm 1955 hướng đến Long Beach, California, đến nơi vào ngày 2 tháng 12. Chỉ một tháng sau, 5 tháng 1 năm 1956, nó lên đường đi Yokosuka, Nhật Bản, và hoạt động cùng với Đệ Thất hạm đội cho đến khi quay trở về Long Beach vào ngày 8 tháng 7. Columbus còn thực hiện thêm hai chuyến đi khác đến Viễn Đông vào các năm 19571958. Vào mùa Hè năm 1958, sự hiện diện của nó khi tuần tra tại eo biển Đài Loan là lời nhắc nhở về sức mạnh và mối quan tâm của Hoa Kỳ vào lúc diễn ra vụ khủng hoảng bắn đạn pháo xuống các đảo Kim Môn và Mã Tổ do Trung Hoa dân quốc trú đóng. Vào ngày 8 tháng 5 năm 1959, Columbus được cho ngừng hoạt động tại Xưởng hải quân Puget Sound để bắt đầu cài biến thành một tàu tuần dương tên lửa điều khiển.

CG-12 (1959-1975)[sửa | sửa mã nguồn]

USS Columbus sau khi cải biến thành tàu tuần dương tên lửa điều khiển, năm 1965.

Ngày 30 tháng 9 năm 1959 Columbus được tái trang bị như một tàu tuần dương tên lửa điều khiển lớp Albany class cùng chung với những chiếc USS Albany (CG-10)USS Chicago (CG-11), và được xếp lại lớp thành CG-12.

Hệ thống vũ khí trang bị khi cải biến bao gồm hệ thống kiểm soát tên lửa Mk 77 với bốn radar kiểm soát hỏa lực AN/SPG-49 và hai bệ phóng Mk 12 nòng đôi dành cho 104 quả tên lửa đất-đối-không tầm xa RIM-8 Talos, một phía trước và một phía sau tàu. Các tàu tuần dương này còn mang theo 84 tên lửa đất-đối-không RIM-24 Tartar tầm ngắn hơn, phóng từ hai bệ Mk 11 nòng đôi bố trí hai bên mạn tàu cạnh cấu trúc thượng tầng chính. Tên lửa Tartar được điều khiển bởi hệ thống kiểm soát tên lửa Mk 74 với bốn radar kiểm soát hỏa lực AN/SPG-51. Để chống tàu ngầm, một bệ phóng Mk 112 "matchbox" tám nòng dành cho tên lửa ASROC được bố trí giữa tàu, giữa hai ống khói. Ngoài ra còn có hai ống phóng ngư lôi ba nòng Mk 32 dành cho kiểu ngư lôi Mk 46 chống tàu ngầm.

USS Columbus (CG-12) được cho hoạt động trở lại vào ngày 1 tháng 12 năm 1962, và được điều động đến khu vực Tây Thái Bình Dương vào tháng 8 năm 1964. Sau đó nó phục vụ như là soái hạm của Tư lệnh lực lượng tuần dương-khu trục suốt năm 1966, sau khi được bố trí đến Hạm đội Đại Tây Dương vào đầu năm đó. Từ năm 1966 đến năm 1974, chiếc tàu tuần dương đã bảy lần được bố trí hoạt động tại Địa Trung Hải.

USS Columbus (CG-12) đang bắn tên lửa RIM-24 Tartar trong một đợt bố trí đến Địa Trung Hải

Không giống các thành viên khác trong lớp Albany cùng được cải biến thành tàu tuần dương tên lửa điều khiển, Columbus không được hiện đại hóa vào năm 1970. Sau đợt bố trí cuối cùng đến Địa Trung Hải kết thúc vào ngày 31 tháng 5 năm 1974, nó quay về cảng nhà và được chuẩn bị để ngừng hoạt động. Chiếc tàu tuần dương được cho ngừng hoạt động vào ngày 31 tháng 1 năm 1975, được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 9 tháng 8 năm 1976, được bán cho hãng Union Minerals & Alloys Corp. vào ngày 3 tháng 10 năm 1977, và được tháo dỡ tại Port Newark, New Jersey.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]