USS Coral Sea (CV-43)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Coral Sea (CV-43)
Tàu sân bay USS Coral Sea
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Đặt hàng: 14 tháng 6 năm 1943
Hãng đóng tàu: Newport News Shipbuilding, Newport News, Virginia
Đặt lườn: 10 tháng 7 năm 1944
Hạ thủy: 2 tháng 4 năm 1946
Nhập biên chế: 1 tháng 10 năm 1947
Xuất biên chế: 26 tháng 4 năm 1990
Xếp lớp lại: CVB-43, 15 tháng 7 năm 1943,
CVA-43, 1 tháng 10 năm 1952
CV-43, 30 tháng 6 năm 1975
Xóa đăng bạ: 28 tháng 4 năm 1990
Biệt danh: "Ageless Warrior"
Số phận: Bị tháo dỡ 8 tháng 9 năm 2000
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Midway
Trọng tải choán nước: 45.000 tấn Anh (46.000 t) (tiêu chuẩn, ban đầu)
74.000 tấn Anh (75.000 t) (khi ngừng hoạt động)
Độ dài: 296 m (971 ft 2 in)
Sườn ngang: 34,4 m (112 ft 10 in) (mực nước)
41,5 m (136 ft 2 in) (chung)
72,5 m (237 ft 10 in) (sàn đáp sau khi hiện đại hóa)
Mớn nước: 10,5 m (34 ft 5 in)
Động cơ đẩy: turbine hơi nước hộp số
công suất 212.000 shp (158.000 kW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h; 38 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
4.104
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
radar dò tìm mặt đất
radar dò tìm không trung
Vũ trang: Ban đầu:
18 × pháo 127 mm (5 inch)/54 caliber Mark 16
21 × khẩu đội bốn nòng Bofors 40 mm
68 × pháo Oerlikon 20 mm
Tái trang bị:
2 × dàn phóng 8 ống tên lửa Sea Sparrow
2 × Phalanx CIWS Mark 71
Bọc giáp: đai giáp: 193 mm (7,6 inch)
sàn đáp: 89 mm (3,5 inch)
Máy bay mang theo: cho đến 130 (trên lý thuyết)
45-55 (thập niên 1980)

USS Coral Sea (CV/CVB/CVA-43) là một tàu sân bay của Hải quân Hoa Kỳ, là chiếc cuối cùng trong lớp Midway, được đưa ra hoạt động sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt tên theo Trận chiến biển San hô, và được thủy thủ đoàn đặt cái tên lóng "Ageless Warrior". Nó đã hoạt động tại Đại Tây DươngĐịa Trung Hải, tham gia Chiến tranh Việt Nam cũng như vụ Khủng hoảng con tin Iran và xung đột với Libya, trước khi được cho ngừng hoạt động vào năm 1990 và được tháo dỡ vào năm 2000.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Thoạt tiên chỉ được biết đến như là tàu sân bay với ký hiệu lườn CV-43, hợp đồng chế tạo nó được trao cho hãng Newport News Shipbuilding tại Newport News, Virginia vào ngày 14 tháng 6 năm 1943, rồi được tái xếp lớp như một "tàu sân bay lớn" với ký hiệu lườn CVB-43 vào ngày 15 tháng 7 năm 1943 và được đặt lườn vào ngày 10 tháng 7 năm 1944. Khi chiếc tàu sân bay chị em Franklin D. Roosevelt (CV-42) vốn mang tên USS Coral Sea được đổi tên vào ngày 8 tháng 5 năm 1945 để tôn vinh vị Tổng thống Franklin D. Roosevelt vừa từ trần, chiếc CVB-43 được đặt tên là Coral Sea. Nó được hạ thủy vào ngày 2 tháng 4 năm 1946; được đỡ đầu bởi Bà Thomas C. Kinkaid; và được đưa ra hoạt động vào ngày Hải quân]] 1 tháng 10 năm 1947 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân A.P. Storrs III.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Các hoạt động ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Coral Sea đánh dấu sự mở đầu hoạt động của mình bằng một dấu mốc, khi vào ngày 27 tháng 4 năm 1948, hai máy bay P2V-2 Neptune, do Trung tá Thomas D. Davies và Thiếu tá John P. Wheatley điều khiển, đã cất cánh từ sàn đáp chiếc tàu sân bay có sự trợ giúp của các bộ JATO (jet assisted take-off) ngoài khơi Norfolk, Virginia. Đây là lần phóng máy bay đầu tiên từ một tàu sân bay đối với một kiểu máy bay có kích cỡ và trọng lượng như vậy. Coral Sea khởi hành từ Norfolk, Virginia vào ngày 7 tháng 6 năm 1948 cho một chuyến đi huấn luyện học viên mới đến Địa Trung Hải và vùng biển Caribbe, và đã quay về Norfolk, Virginia vào ngày 11 tháng 8.

USS Coral Sea trong chuyến hải hành đầu tiên vào năm 1948

Sau một giai đoạn đại tu, Coral Sea lại hoạt động trở lại tại khu vực ngoài khơi Virginia Capes. Vào ngày 7 tháng 3 năm 1949, một chiếc P2V-3C Neptune, do Đại tá John T. Hayward thuộc Phi đội VC-5 điều khiển, đã cất cánh từ chiếc tàu sân bay với tải trọng bom giả nặng Bản mẫu:Conv. Chiếc máy bay đã băng ngang lục địa, ném số bom giả xuống khu vực Bờ Tây, rồi quay trở về không ngừng nghỉ để hạ cánh xuống Căn cứ không lực Hải quân Patuxent River, Maryland. Sau đợt huấn luyện tại vùng biển Caribbe, Coral Sea lên đường vào ngày 3 tháng 5 năm 1949 cho lượt bố trí hoạt động đầu tiên tại Địa Trung Hải cùng Đệ Lục hạm đội, và quay trở về nhà vào ngày 28 tháng 9.

Thập niên 1950[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 4 năm 1950, lượt cất cánh đầu tiên của kiểu máy bay ném bom tấn công hạng nặng AJ-1 Savage từ một tàu sân bay đã được thực hiện trên Coral Sea, cũng do Đại tá John T. Hayward thuộc Phi đội VC-5 điều khiển. Những phi công còn lại của phi đội đã hoàn tất việc chuẩn nhận hoạt động trên tàu sân bay của kiểu máy bay này vào ngày 31 tháng 8, đánh dấu việc đưa ra hoạt động trên tàu sân bay loại máy bay ném bom tấn công tầm xa. Vào lúc này, Coral Sea quay trở lại Địa Trung Hải hoạt động cùng Đệ Lục hạm đội từ ngày 9 tháng 9 năm 1950 đến ngày 1 tháng 2 năm 1951.

Sau khi quay trở về nhà, Coral Sea trải qua một đợt đại tu rồi hoạt động tại chỗ, cũng như huấn luyện cùng Phi đoàn 17 để chuẩn bị cho việc quay trở lại hoạt động tại Địa Trung Hải một lần nữa vào ngày 20 tháng 3 năm 1951. Trong vai trò soái hạm của Tư lệnh Đội tàu sân bay 6, nó tham gia cuộc tập trận Beehive I của khối NATO, rồi quay về Norfolk, Virginia vào ngày 6 tháng 10 cho các hoạt động tại chỗ và tại vùng biển Caribbe. Sau đó chiếc tàu sân bay lên đường vào ngày 19 tháng 4 năm 1952 đi sang Địa Trung Hải. Trong khi phục vụ cùng Đệ Lục hạm đội, nó ghé thăm Nam Tư, và đã đưa Thống chế Josip Broz Tito trong một chuyến đi thị sát hoạt động của tàu sân bay kéo dài một ngày. Con tàu được tái xếp lớp thành một "tàu sân bay tấn công" với ký hiệu lườn mới CVA-43 vào ngày 1 tháng 10 năm 1952 trong khi đang ở ngoài biển, và nó quay trở về Norfolk, Virginia để đại tu vào ngày 12 tháng 10.

Coral Sea tiến hành huấn luyện phi công tàu sân bay ngoài khơi Virginia CapesMayport, Florida; và đến tháng 4 năm 1953 nó đón lên tàu Ủy ban Tư pháp thuộc Hạ nghị viện Hoa Kỳ cho một chuyến đi kéo dài ba ngày. Vào ngày 26 tháng 4, chiếc tàu sân bay khởi hành cho một lượt phục vụ tại Địa Trung Hải. Chuyến đi này được đánh dấu bằng một cuộc viếng thăm Tây Ban Nha và tham gia cuộc tập trận "Black Wave" của khối NATO, có Thứ trưởng Bộ Quốc phòng R.M. Kyes trên tàu như một quan sát viên. Quay trở về Norfolk, Virginia vào ngày 21 tháng 10, nó tiến hành các thử nghiệm cho Văn phòng Hàng không cùng huấn luyện các thành viên Hải quân Dự bị tại Mayport, Floridavịnh Guantánamo.

Coral Sea với sàn đáp thẳng vào năm 1955

Coral Sea quay trở lại Địa Trung Hải từ ngày 7 tháng 7 đến ngày 20 tháng 12 năm 1954. Trong lượt hoạt động này, nó đã được Thống chế Tây Ban Nha Francisco Franco viếng thăm khi nó neo đậu ngoài khơi Valencia, Tây Ban Nha. Trong lượt hoạt động tiếp theo Địa Trung Hải từ ngày 23 tháng 3 đến ngày 29 tháng 9 năm 1955, nó đã ghé thăm Istanbul và tham gia các cuộc tập trận của NATO.

Khởi hành từ Norfolk, Virginia vào ngày 23 tháng 7 năm 1956 hướng đến Mayport, Florida để nhận lên tàu Liên đội Không lực Tàu sân bay 10, Coral Sea tiếp tục đi đến Địa Trung Hải trong lượt hoạt động tiếp theo. Nó tham gia các cuộc tập trận của khối NATO, và đã đón lên tàu Vua Paul của Hy Lạp và Friederike Luise Thyra của Hannover như những vị khách vào tháng 10. Trong vụ Khủng hoảng kênh đào Suez, Coral Sea đã di tản công dân Hoa Kỳ khỏi khu vực xung đột, và đã thường trực ngoài khơi Ai Cập cho đến tháng 11.

Coral Sea quay trở về Norfolk, Virginia vào ngày 11 tháng 2 năm 1957; rồi rời cảng vào ngày 26 tháng 2 để viếng thăm Santos, Brasil; Valparaíso, ChileBalboa, Panama trước khi đi đến Bremerton, Washington vào ngày 15 tháng 4. Coral Sea được rút khỏi biên chế tại Xưởng hải quân Puget Sound vào ngày 24 tháng 5 năm 1957 để tiến hành đợt cải biến lớn SCB-110A, bao gồm việc trang bị một sàn đáp chéo góc và các máy phóng hơi nước, bố trí lại các thang nâng ra mép sàn đáp, một mũi tàu chống bão kín, các mảng đắp trên lườn tàu, tháo dỡ đai giáp cùng nhiều súng phòng không, cùng các thay đổi khác. Sau khi hoàn tất, nó được tái biên chế vào ngày 25 tháng 1 năm 1960 và lại gia nhập hạm đội. Trong tháng 9 năm 1960, nó tiến hành huấn luyện cùng với liên đội không quân phối thuộc mới dọc theo bờ Tây, rồi lên đường vào tháng 9 cho một lượt hoạt động cùng với Đệ Thất hạm đội tại Viễn Đông cho chuyến đi đầu tiên đến Tây Thái Bình Dương.

Việt Nam trong những năm 1960 và 1970[sửa | sửa mã nguồn]

Việc trang bị hệ thống PLAT (Pilot Landing Aid Television) được hoàn tất trên chiếc Coral Sea vào ngày 14 tháng 12 năm 1961. Nó là chiếc tàu sân bay đầu tiên được gắn thiết bị này để hoạt động. Được thiết kế để cung cấp một băng ghi hình cho mỗi lần hạ cánh, hệ thống này tỏ ra hữu ích cho mục đích huấn luyện cũng như phân tích các tai nạn hạ cánh, chứng tỏ là một công cụ có giá trị trong việc đảm bảo an toàn. Đến năm 1963, mọi tàu sân bay tấn công đầu được trang bị hệ thống PLAT, và có kế hoạch trang bị nó cho tàu sân bay chống tàu ngầm cùng các trạm trên bờ.

Coral Sea rời Trân Châu Cảng năm 1963

Theo sau Sự kiện vịnh Bắc bộ vào tháng 8 năm 1964, Coral Sea lên đường vào ngày 7 tháng 12 để phục vụ cùng Đệ Thất hạm đội. Đến ngày 7 tháng 2 năm 1965, máy bay của Coral Sea hợp cùng những chiếc xuất phát từ các tàu sân bay RangerHancock đã tấn công các trại binh và khu vực tập kết quân sự tại Đồng Hới thuộc phía Nam của Bắc Việt Nam. Cuộc không kích này là nhằm trả đủa cuộc tấn công của Việt Cộng vào các căn cứ chung quanh PleikuNam Việt Nam. Ngày 26 tháng 3, Đệ Thất hạm đội bắt đầu tham gia Chiến dịch Sấm rền (Rolling Thunder), một chuỗi các cuộc ném bom hệ thống vào các mục tiêu quân sự khắp miền Bắc Việt Nam. Phi công của Coral Sea đã nhắm vào các trạm radar gần bờ biển gần Vĩnh Linh. Coral Sea tiếp tục được bố trí cho đến khi quay trở về nhà vào ngày 1 tháng 11 năm 1965.

Coral Sea thực hiện một đợt bố trí khác đến Tây Thái Bình Dương và Việt Nam từ ngày 29 tháng 7 năm 1966 đến ngày 23 tháng 2 năm 1967. Vào mùa Hè năm 1967, thành phố San Francisco chấp nhận con tàu như "thuộc về San Francisco".[1] Điều này xem ra khôi hài so với tình cảm phản chiến tại vùng vịnh San Francisco, và so với thực tế những gì xảy ra vào Mùa Hè của Tình yêu.[2] Cho dù vậy, thành phố và con tàu vẫn có được mối quan hệ chính thức mang tính hình thức. Có thể nhiều lần thủy thủ đoàn đã không tán đồng thái độ của cư dân vùng vịnh.[1]

Chiếc tàu sân bay liên tục được bố trí hoạt động đến Tây Thái Bình Dương/Việt Nam cho đến năm 1975: từ 26 tháng 7 năm 1967 đến 6 tháng 4 năm 1968; 7 tháng 9 năm 1968 đến 15 tháng 4 năm 1969; 23 tháng 9 năm 1969 đến 1 tháng 7 năm 1970; 12 tháng 11 năm 1971 đến 17 tháng 7 năm 1972; 9 tháng 3 đến 8 tháng 11 năm 1973; và từ 5 tháng 12 năm 1974 đến 2 tháng 7 năm 1975. Sau khi được tái trang bị từ năm 1970 đến năm 1971 tại San Diego, trong chuyến đi quay trở lại Alameda, Coral Sea phải chịu đựng một đám cháy tại ngăn thông tin liên lạc. Đám cháy tràn lan nhanh đến mức Đại tá William H. Harris chỉ huy con tàu phải lệnh cặp dọc theo bờ biển ngoài khơi San Mateo và Santa Barbara phòng hờ trường hợp phải bỏ tàu nếu như đám cháy không thể kiểm soát. Cuối cùng đám cháy cũng được dập tắt.

Hoạt động của máy bay Hải quânThủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tại Việt Nam được tăng cường đáng kể trong suốt tháng 4 năm 1972 với tổng cộng 4.833 phi vụ của Hải quân tại miền Nam và 1.250 phi vụ khác tại miền Bắc. Coral Sea cùng với Hancock đang thường trực tại trạm Yankee khi cuộc tổng tấn công mùa Xuân của lực lượng Bắc Việt Nam bắt đầu; nên vào đầu tháng 4 có thêm sự tham gia của các tàu sân bay Kitty HawkConstellation. Vào ngày 16 tháng 4 năm 1972, máy bay của Coral Sea, hợp cùng những chiếc xuất phát từ Kitty HawkConstellation, đã thực hiện 57 phi vụ bên trên khu vực Hải Phòng hỗ trợ cho những chiếc máy bay ném bom chiến lược B-52 tấn công các kho dầu tại cảng này trong phạm vi chiến dịch Freedom Porch.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă http://www.usscoralsea.net/pages/mtjas.php
  2. ^ Various Bay Area news reports 1964-1983