USS Downes (DD-375)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
The USS Downes while underway during the later 1930s
Tàu khu trục USS Downes (DD-375) trên đường đi vào cuối những năm 1930
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Downes (DD-375)
Đặt tên theo: John Downes
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Norfolk
Hạ thủy: 22 tháng 4, 1936
Đỡ đầu bởi: cô S. F. Downes
Nhập biên chế: 15 tháng 1, 1937
Tái biên chế: 15 tháng 11, 1943
Xuất biên chế: 20 tháng 6, 1942
17 tháng 12, 1947
Danh hiệu và
phong tặng:
4 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận: Bán để tháo dỡ, 18 tháng 11, 1947
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Mahan
Trọng tải choán nước: 1.500 tấn Anh (1.524 t) (tiêu chuẩn)
1.725 tấn Anh (1.753 t) (đầy tải)
Độ dài: 341 ft 3 in (104,01 m)
Sườn ngang: 35 ft 6 in (10,82 m)
Mớn nước: 10 ft 7 in (3,23 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số General Electric
4 × nồi hơi ống nước Babcock and Wilcox
2 × trục
công suất 46.000 hp (34.000 kW)
Tốc độ: 37 hải lý một giờ (69 km/h)
Tầm xa: 6.940 nmi (12.850 km; 7.990 mi) ở tốc độ 12 hải lý một giờ (22 km/h; 14 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
158 (thời bình)[1]
250 (thời chiến)
Vũ trang:

ban đầu:[1] 5 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber trên bệ Mk 21 đa dụng (5×1) [2]
4 × súng máy Browning M2.50-caliber (4×1)
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (3×4)
2 × đường ray thả mìn sâu
khoảng 1944:[1] 1 × hệ thống kiểm soát hỏa lực Mk33
2 × hệ thống kiểm soát hỏa lực Mk51
4 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber trên bệ Mk 21 đa dụng (4×1)[2]
4 × pháo phòng không Bofors 40 mm (2×2)[3]
6 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (3×4)

2 × đường ray thả mìn sâu

USS Downes (DD-375) là một tàu khu trục lớp Mahan được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào giữa những năm 1930. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Thiếu tướng Hải quân John Downes (1786-1854), người từng tham gia cuộc Chiến tranh 1812. Nó đã có mặt tại Trân Châu Cảng vào lúc diễn ra cuộc tấn công vào ngày 7 tháng 12, 1941, bị hư hại nặng đến mức phải tháo dỡ và chế tạo lại toàn bộ, và đã hoạt động trở lại từ năm 1943 cho đến khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc. Downes được cho ngừng hoạt động và bị bán để tháo dỡ vào năm 1947.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Downes được đặt lườn vào ngày 15 tháng 8, 1934 tại Xưởng hải quân NorfolkPortsmouth, Virginia. Nó được hạ thủy vào ngày 22 tháng 4, 1936, được đỡ đầu bởi cô S. F. Downes, một hậu duệ của Thiếu tướng Downes; và được đưa ra hoạt động vào ngày 15 tháng 1, 1937 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân C. H. Roper.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nhập biên chế, Downes khởi hành từ Norfolk, Virginia, và đi đến San Diego, California vào ngày 24 tháng 11, 1937 để thực hành dọc theo vùng bờ Tây, vùng biển Caribequần đảo Hawaii cho đến tháng 4, 1940, khi cảng nhà của nó được chuyển đến Trân Châu Cảng. Trong tháng 3tháng 4, 1941, nó tham gia chuyến đi đến Samoa, FijiAustralia, và viếng thăm vùng bờ Tây vào cuối năm đó.

Khi Hải quân Nhật bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12, 1941, Downes đang ở trong ụ tàu ở Trân Châu Cảng cùng tàu khu trục Cassinthiết giáp hạm Pennsylvania. Cả ba đã chịu đựng cuộc không kích nặng nề, và cho dù bị càn quét bắn phá, thủy thủ đoàn trên cả Downes lẫn Cassin đã khai hỏa súng phòng không, chống đỡ các cuộc không kích tiếp theo. Các quả bom cháy đã làm nổ tung các thùng nhiên liệu bị rò rỉ, gây ra các đám cháy không thể kiểm soát được. Trong một nỗ lực làm ngập nước ụ tàu để chữa cháy, dầu bốc cháy dâng cao theo mực nước, làm nổ tung đạn dược và đầu đạn ngư lôi, khiến cả hai chiếc tàu khu trục được lệnh bỏ tàu. Sau đó Cassin bị trượt khỏi các khối chèn dưới lườn tàu và nghiêng tựa trên Downes. Cả hai con tàu được xem là tổn thất, và Downes được chính thức cho xuất biên chế vào ngày 20 tháng 6, 1942. Cả hai con tàu đều bị hư hại quá mức có thể sửa chữa, nhưng máy móc và thiết bị của chúng được tháo dỡ và thu hồi, được cho chuyển đến Xưởng hải quân Mare Island, nơi những con tàu hoàn toàn mới được chế tạo dựa trên máy móc vật liệu thu hồi được, và chúng được đặt lại tên và số hiệu lườn nguyên thủy.[4]

Được cho nhập biên chế trở lại tại Xưởng hải quân Mare Island vào ngày 15 tháng 11, 1943, Downes khởi hành từ San Francisco, California vào ngày 8 tháng 3, 1944 để hộ tống một đoàn tàu vận tải đi đến Trân Châu Cảng, và tiếp tục đi đến Majuro, đến nơi vào ngày 26 tháng 3. Nó được phân nhiệm vụ phong tỏa đảo san hô Wotje, một vị trí cố thủ của quân Nhật bị bỏ qua, cho đến ngày 5 tháng 4; và sau khi được tiếp liệu tại Trân Châu Cảng, đã tiếp tục đi đến Eniwetok vào ngày 6 tháng 5, phục vụ như tàu kiểm soát lối ra vào cảng và là soái hạm của đơn vị đặc nhiệm tuần tra gần bờ. Trong giai đoạn này nó từng giải cứu một phi công bị rơi trong vũng biển Eniwetok cùng bốn thành viên đội bay khác ngoài khơi Ponape, Caroline Islands. Đến tháng 7, nó bắt đầu làm nhiệm vụ hộ tống vận tải từ Eniwetok đến Saipan nhằm hỗ trợ cho chiến dịch quần đảo Mariana, rồi tuần tra ngoài khơi Tinian trong quá trình đổ bộ tại đây. Nó đã hỗ trợ hỏa lực tại Marpi Point, Tinian và bắn phá đảo Aguijan, và vào ngày 9 tháng 10 đã tham gia bắn phá đảo Marcus như một đòn nghi binh cho cuộc không kích của tàu sân bay xuống Nansei Shoto.

Downes khởi hành từ Saipan vào ngày 14 tháng 10 để gia nhập Đội đặc nhiệm 38.1 hai ngày sau đó cho một cuộc truy tìm các tàu chiến Nhật mà Đô đốc hy vọng có thể đánh lừa ra biển khơi bằng hai chiếc tàu tuần dương bị hư hại CanberraHouston. Đội đặc nhiệm quay trở về Leyet để hỗ trợ cho cuộc đổ bộ tại đây vào ngày 20 tháng 10. Downes khởi hành đi Ulithi vào ngày hôm đó, nhưng được gọi quay trở lại hộ tống các tàu sân bay trong cuộc không kích nhắm vào hạm đội Nhật Bản trong Trận chiến vịnh Leyte. Nó được cho tách ra vào ngày 27 tháng 10, và lên đường đi Ulithi để được tiếp tế.

Tiếp tục đi đến Trân Châu Cảng để được đại tu, Downes chỉ quay trở lại Ulithi vào ngày 29 tháng 3, 1945 hộ tống một đoàn tàu vận tải, và sau đó đi đến Guam. Từ ngày 5 tháng 4 đến ngày 5 tháng 6, nó hoạt động tại khu vực quần đảo Mariana trong các nhiệm vụ tuần tra, giải cứu máy bay, huấn luyện tàu ngầm và hộ tống. Nó đã phục vụ tại Iwo Jima trong các nhiệm vụ tương tự từ ngày 9 tháng 6. Khi chiến tranh kết thúc, nó được lệnh quay trở về Hoa Kỳ, và đã rời Iwo Jima vào ngày 19 tháng 9 với các quân nhân giải ngũ trên tàu. Nó về đến San Pedro, California, ghé qua Beaumont, Texas vào dịp lễ hội của Ngày Hải quân, và về đến Norfolk vào ngày 5 tháng 11.

Downes được cho ngừng hoạt động vào ngày 17 tháng 12, 1945 và bị bán để tháo dỡ vào ngày 18 tháng 11, 1947.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Downes được tặng thưởng bốn Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Sumrall, Robert F. "A Destroyer Named Smith" United States Naval Institute Proceedings July 1972 pp.72-73
  2. ^ a ă “5"/38 (12.7 cm) Mark 12”. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2007. 
  3. ^ “Navy Weapons”. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007. 
  4. ^ Bartholomew & Milwee 2009, tr. 59