USS Fall River (CA-131)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Fall River
Tàu tuần dương USS Fall River (CA-131) vào ngày 12 tháng 8 năm 1945
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Fall River
Đặt tên theo: Fall River, Massachusetts
Đặt hàng: 9 tháng 7 năm 1942
Hãng đóng tàu: New York Shipbuilding Corp., Camden, New Jersey
Đặt lườn: 12 tháng 4 năm 1943
Hạ thủy: 13 tháng 8 năm 1944
Đỡ đầu bởi: Bà Alexander C. Murray
Nhập biên chế: 1 tháng 7 năm 1945
Xuất biên chế: 31 tháng 10 năm 1947
Xóa đăng bạ: 19 tháng 2 năm 1971
Số phận: Bán để tháo dỡ 28 tháng 8 năm 1972
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Baltimore
Trọng tải choán nước: 14.500 tấn (tiêu chuẩn)
17.000 tấn (đầy tải)
Độ dài: 205,3 m (673 ft 7 in)
Sườn ngang: 21,6 m (70 ft 10 in)
Độ cao: 34,4 m (112 ft 10 in) (cột ăn-ten)
Mớn nước: 7,3 m (23 ft 11 in)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hộp số General Electric
4 × nồi hơi, áp lực 4.240 kPa (615 psi)
4 × trục
công suất 120.000 mã lực (89,5 MW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h)
Tầm xa: 18.500 km (10.000 hải lý) ở tốc độ 27,8 km/h (15 knot)
Tầm hoạt động: 2.250 tấn dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.146 (61 sĩ quan, 1085 thủy thủ)
Vũ trang: 9 × hải pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber (3×3)
12 × hải pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber đa dụng (6×2)
48 × pháo phòng không Bofors 40 mm
24 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp chính: 152 mm (6 inch)
sàn tàu: 76 mm (3 inch)
tháp pháo: 76–152 mm (3-6 inch)
tháp chỉ huy: 203 mm (8 inch)
Máy bay mang theo: 4 × máy bay Vought OS2U Kingfisher/Curtiss SC-1 Seahawk
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Fall River (CA-131) là một tàu tuần dương hạng nặng lớp Baltimore được Hải quân Hoa Kỳ đưa ra hoạt động vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai. Được hoàn tất quá trễ để có thể góp phần vào cuộc chiến, nó chỉ có thời gian hoạt động ngắn ngủi trước khi ngừng hoạt động năm 1947 và bị bán để tháo dỡ năm 1972.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Là tàu chiến đầu tiên của Hải quân Mỹ được đặt tên theo thành phố Fall River, Massachusetts, nó được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng New York Shipbuilding Corporation ở Camden, New Jersey vào ngày 12 tháng 4 năm 1943. Fall River được hạ thủy vào ngày 13 tháng 8 năm 1944, được đỡ đầu bởi Bà Alexander C. Murray, phu nhân Thị trưởng thành phố Fall River; và được đưa ra hoạt động vào ngày 1 tháng 7 năm 1945 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân David Stolz Crawford.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Fall River đi đến Norfolk vào ngày 31 tháng 10 năm 1945, nơi nó ra khơi cho những hoạt động thử nghiệm phát triển cho đến ngày 31 tháng 1 năm 1946. Sau đó chiếc tàu tuần dương được điều sang Lực lượng Đặc nhiệm Hỗn hợp 1, vốn được tổ chức nhằm tiến hành Chiến dịch Crossroads, cuộc thử nghiệm vũ khí nguyên tử tại quần đảo Marshall vào mùa Hè năm 1946. Để chuẩn bị cho nhiệm vụ này, Fall River đi đến San Pedro, California, nơi nó được bổ sung những tiện nghi của một soái hạm từ ngày 16 tháng 2 đến ngày 6 tháng 3. Đi đến Trân Châu Cảng vào ngày 17 tháng 3, nó đón lên tàu Chuẩn đô đốc F. G. Fahrion, Tư lệnh đội tàu mục tiêu sử dụng cho thử nghiệm, và cùng ông đi đến quần đảo Marshall từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 14 tháng 9.

Sau các hoạt động huấn luyện dọc theo bờ Tây Hoa Kỳ, Fall River phục vụ một lượt hoạt động tại Viễn Đông trong vai trò soái hạm của Hải đội Tuần dương 1 từ ngày 12 tháng 1 đến ngày 17 tháng 6 năm 1947. Dự định cho Thế Chiến II nhưng được hoàn tất quá trễ để có thể hoạt động trong cuộc xung đột, Fall River đối mặt với những biện pháp kinh tế sau chiến tranh, cho dù còn mới và không bị hư hại trong chiến tranh. Nó quay trở về Xưởng hải quân Puget Sound, nơi nó được cho ngừng hoạt động và đưa về lực lượng dự bị vào ngày 31 tháng 10 năm 1947. Được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 19 tháng 2 năm 1971, nó bị bán cho hãng Zidell Explorations Corp. tại Portland, Oregon, vào ngày 28 tháng 8 năm 1972 để tháo dỡ.

Mũi của con tàu hiện đang được trưng bày tại Battleship Cove.

Mũi chiếc Fall River tại Battleship Cove


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]