USS Foote (DD-169)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Foote (DD-169)
Tàu khu trục USS Foote (DD-169) cải biến thành chiếc HMS Roxborough (I-07)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Foote (DD-169)
Đặt tên theo: Andrew Hull Foote
Hãng đóng tàu: Fore River Shipbuilding Company, Quincy, Massachusetts
Đặt lườn: 7 tháng 8, 1918
Hạ thủy: 14 tháng 12, 1918
Đỡ đầu bởi: bà Lelia F. Cady
Nhập biên chế: 21 tháng 3, 1919
Tái biên chế: 2 tháng 7, 1940
Xuất biên chế: 6 tháng 7, 1922
23 tháng 9, 1940
Xóa đăng bạ: 8 tháng 1, 1941
Số phận: Chuyển cho Anh Quốc, 23 tháng 9, 1940
Phục vụ (Anh Quốc)
Tên gọi: HMS Roxborough (I07)
Nhập biên chế: 23 tháng 9, 1940
Số phận: chuyển cho Liên Xô, 1 tháng 8, 1944
Phục vụ (Liên Xô)
Tên gọi: Zhyostky (hoặc Doblestni)
Trưng dụng: 1 tháng 8, 1944
Số phận: Hoàn trả cho Anh Quốc 7 tháng 2, 1949; tháo dỡ, 14 tháng 5, 1949
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
133 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Foote (DD–169) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất; trong Chiến tranh Thế giới thứ hai được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh năm 1940 và đổi tên thành HMS Roxborough (I07), rồi lại được chuyển cho Hải quân Liên Xô năm 1944 và đổi tên thành Zhyostky (hoặc theo một nguồn khác là Doblestni) trước khi được hoàn trả cho Anh Quốc năm 1949 để tháo dỡ. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Chuẩn đô đốc Andrew Hull Foote (1806-1863).

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Foote được đặt lườn vào ngày 7 tháng 8, 1918 tại xưởng tàu của hãng Fore River Shipbuilding CompanyQuincy, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 14 tháng 12, 1918, được đỡ đầu bởi bà Lelia F. Cady, con gái Đô đốc Foote, và được đưa ra hoạt động vào ngày 21 tháng 3, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân D. H. Stuart.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

USS Foote[sửa | sửa mã nguồn]

Foote khởi hành từ Boston vào ngày 3 tháng 5, 1919 đi Newfoundland, để làm nhiệm vụ cột mốc dẫn đường cho chuyến bay lịch sử vượt Đại Tây Dương của các thủy phi cơ NC Hải quân. Quay trở về Boston vào ngày 22 tháng 5 để hoàn tất việc trang bị vốn bị ngắt quãng, nó tiến hành các hoạt động huấn luyện cho đến khi lên đường từ Newport vào ngày 27 tháng 8 cho một lượt phục vụ cùng Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tại vùng biển Châu Âu. Từ tháng 9 đến tháng 12, nó phục vụ tại vùng biển Adriatic, rồi ghé qua các cảng ÝPháp trên đường quay trở về nhà. Về đến Boston vào ngày 12 tháng 2, 1920, nó được đưa về lực lượng dự bị vào ngày 24 tháng 2 để được sửa chữa tại đây và tại Charleston.

Vào mùa Hè 1921, Foote hoạt động với biên chế thủy thủ đoàn giảm thiểu 50% cho các cuộc thực tập tác xạ tại vịnh Narragansett; và sau khi quay trở về Charleston, nó luân phiên neo đậu và sửa chữa tại đây và tại Boston cho đến khi được cho xuất biên chế tại Philadelphia, Pennsylvania vào ngày 6 tháng 7, 1922. Được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 2 tháng 7, 1940, Foote hoạt động tuần tra ngoài khơi Charleston cho đến khi lên đường vào ngày 7 tháng 9 để đi Halifax, Nova Scotia. Tại đây vào ngày 23 tháng 9, 1940, nó được cho xuất biên chế và được chuyển cho Anh Quốc theo Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ.

HMS Roxborough[sửa | sửa mã nguồn]

Nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh như là chiếc HMS Roxborough vào ngày 23 tháng 9, 1940, chiếc tàu khu trục vượt Đại Tây Dương để phục vụ cùng Bộ chỉ huy Tiếp cận phía Tây, làm nhiệm vụ hộ tống các đoàn tàu vận tải trong chặng cuối đầy nguy hiểm của hành trình đi đến các cảng Anh. Vào tháng 3, 1942, Roxborough chuyển sang nhiệm vụ hộ tống vận tải tại khu vực Tây Đại Tây Dương ngoài khơi Halifax, Nova Scotia. Roxborough được cải biến để tối ưu cho nhiệm vụ hộ tống và chống tàu ngầm bằng cách tháo dỡ ba trong số các khẩu pháo 4 in (100 mm)/50 caliber ban đầu cùng một dàn ống phóng ngư lôi ba nòng để giảm bớt trọng lượng nặng bên trên, lấy chỗ cho việc trang bị dàn súng cối chống tàu ngầm Hedgehog cũng như tăng lượng mìn sâu mang theo.[2]

Đang khi hộ tống cho Đoàn tàu vận tải HX222, Roxborough gặp phải thời tiết xấu đến mức cấu trúc cầu tàu bị vỡ ra, khiến 11 người thiệt mạng trong đó có vị chỉ huy của nó và hạm phó. Sĩ quan cao cấp duy nhất sống sót đã xoay sở lấy lại được sự kiểm soát con tàu, và dưới sự điều khiển từ đuôi tàu, nó tìm cách đến được St. Johns, Newfoundland. Quay trở lại Tyne vào ngày 10 tháng 1, 1944, Roxborough được đưa về lực lượng dự bị cho đến khi được chuyển giao cho Liên Xô vào ngày 1 tháng 8, 1944.

Zhyostky[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 1 tháng 8, 1944, Roxborough được chuyển cho Hải quân Liên Xô, và được đổi tên thành Zhyostky[3] hoặc Doblestny[4] tùy theo nguồn. Nó được hoàn trả cho Anh vào ngày 7 tháng 2, 1949 và bị tháo dỡ vào ngày 14 tháng 5, 1949.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71
  2. ^ Lenton 1968, tr. 92
  3. ^ DANFS
  4. ^ Gardiner 1980, tr. 332

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]