USS Helm (DD-388)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Helm (DD-388)
Tàu khu trục USS Helm(DD-388)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Helm(DD-388)
Đặt tên theo: James Meredith Helm
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Norfolk
Đặt lườn: 25 tháng 9, 1935
Hạ thủy: 27 tháng 5, 1937
Đỡ đầu bởi: bà J. M. Helm
Nhập biên chế: 16 tháng 10, 1937
Xuất biên chế: 26 tháng 6, 1946
Xóa đăng bạ: 25 tháng 2, 1947
Danh hiệu và
phong tặng:
11 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận: Bán để tháo dỡ, 2 tháng 10, 1947
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Bagley
Trọng tải choán nước: 1.500 tấn Anh (1.524 t) (tiêu chuẩn)
2.325 tấn Anh (2.362 t) (đầy tải)
Độ dài: 341 ft 8 in (104,14 m)
Sườn ngang: 35 ft 6 in (10,82 m)
Mớn nước: 10 ft 4 in (3,15 m) (tiêu chuẩn)
12 ft 10 in (3,91 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số
4 × nồi hơi ống nước Babcock and Wilcox hay Foster Wheeler
2 × trục
công suất 49.000 hp (37.000 kW)
Tốc độ: 38,5 hải lý một giờ (71,3 km/h)
Tầm xa: 6.500 nmi (12.040 km; 7.480 mi) ở tốc độ 12 hải lý một giờ (22 km/h; 14 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
251
Vũ trang:

như chế tạo: 4 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber trên bệ Mk 21 đa dụng (4×1);
4 × súng máy Browning M2.50-caliber (4×1)
16 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×4)

2 × đường ray thả mìn sâu

USS Helm (DD-388) là một tàu khu trục lớp Bagley được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào giữa những năm 1930. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Chuẩn đô đốc James Meredith Helm (1855-1927), người từng tham gia cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa KỳChiến tranh Thế giới thứ nhất. Helm đã phục vụ trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ hai tại Mặt trận Thái Bình Dương cho đến khi chiến tranh kết thúc, được cho ngừng hoạt động năm 1946 và bị bán để tháo dỡ năm 1947.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Helm được đặt lườn tại Xưởng hải quân NorfolkPortsmouth, Virginia vào ngày 25 tháng 9, 1935. Nó được hạ thủy vào ngày 27 tháng 5, 1937; được đỡ đầu bởi bà J. M. Helm, vợ góa Chuẩn đô đốc Helm; và được đưa ra hoạt động vào ngày 16 tháng 10, 1937 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân P. H. Talbot.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trước chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất chạy thử máy, Helm hoạt động tại vùng biển Caribe cho đến tháng 3, 1938. Sau các đợt thực tập mùa Hè, nó được phối thuộc về Hải đội Đại Tây Dương mới được thành lập vào ngày 1 tháng 10, 1938. Vào đầu năm 1939, nó được bố trí cùng Đội tàu sân bay 2 tại vùng biển Caribe cho cuộc tập trận Vấn đề Hạm đội XX. Sau khi được chuyển sang vùng bờ Tây vào tháng 5, 1939, nó tham gia các cuộc thực tập hạm đội và cơ động hộ tống ngoài khơi San Diego, California và tại khu vực quần đảo Hawaii.

Thế Chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Trân Châu Cảng[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc 07 giờ 55 sáng ngày 7 tháng 12, 1941, Helm đang trên đường đi vào West Loch tại Trân Châu Cảng, đi đến một phao neo khử từ,[1] khi máy bay xuất phát từ tàu sân bay của Hải quân Nhật tấn công căn cứ này. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất đang trên đường đi vào lúc bắt đầu cuộc tấn công.[2] Chiếc tàu khu trục lập tức vận hành các khẩu pháo của nó, và đã bắn rơi ít nhất một máy bay đối phương trong khi nó bị bắn phá, và bị hư hại nhẹ do hai quả bom ném xuống lân cận. Lúc 08 giờ 17 phút, băng qua đám lửa khói hỗn loạn, nó rời luồng West Loch để tiến ra khơi ngang qua cửa cảng. Khi nó đang rời luồng cảng, một quan sát viên trên Helm trông thấy một tàu ngầm bỏ túi Nhật bị vướng trên một rạn san hô. Helm bẻ lái gắt để hướng đến đối phương và nổ súng tấn công. Cố gắng thoát khỏi chiếc tàu ngầm bỏ túi bị đánh hỏng, một thành viên thủy thủ đoàn bị chìm, còn người kia bơi lên bờ và trở thành tù binh chiến tranh đầu tiên của Hoa Kỳ trong Thế Chiến II. Sau cuộc tấn công, nó gia nhập đội đặc nhiệm tàu sân bay Saratoga vốn vừa đi đến từ San Diego, và phục vụ như là tàu hộ tống và canh phòng máy bay.[1]

1942[sửa | sửa mã nguồn]

Helm lên đường vào ngày 20 tháng 1, 1942 cho một nhiệm vụ đặc biệt nhằm giải cứu nhân sự của Bộ Nội vụ bị kẹt lại trên các đảo HowlandBaker. Sử dụng xuồng săn cá voi, chiếc tàu khu trục đã đưa được sáu người trên hai đảo này vào ngày 31 tháng 1. Nó bị một máy bay ném bom tuần tra Nhật tấn công vào cuối ngày hôm đó, nhưng các xạ thủ đã đánh đuổi kẻ tấn công, và nó quay về đến Trân Châu Cảng vào ngày 6 tháng 2.

Sau một chuyến đi khứ hồi đến San Diego, Helm rời Trân Châu Cảng vào ngày 15 tháng 3, 1942 hộ tống một lực lượng đồn trú tiền phương đến New Hebrides. Nó đi đến Efate vào ngày 19 tháng 3, và trong những tuần lễ tiếp theo đã hộ tống tàu bè tại khu vực này trong khi các căn cứ của Hoa Kỳ được cũng cố. Nó đã cứu vớt 13 người sống sót từ chiếc SS John Adams vào ngày 9 tháng 5 cùng bốn người khác từ chiếc tàu chở dầu Neosho bị đánh chìm trong Trận chiến biển Coral vào ngày 17 tháng 5. Những người này được đưa đến Brisbane, Australia, nơi Helm gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 44 dưới quyền Chuẩn đô đốc Anh Victor Crutchley vào ngày 19 tháng 5.

Trong hai tháng tiếp theo sau, Helm thực hiện nhiệm vụ hộ tống dọc theo bờ biển Australia. Hạm đội sau đó được tập trung cho chiến dịch đổ bộ đầu tiên tại Thái Bình Dương nhằm chiếm đóng Guadalcanal. Nó rời Auckland, New Zealand vào ngày 22 tháng 7 để đi đến quần đảo Fiji, và sau các đợt thực hành đổ bộ, lực lượng của Chuẩn đô đốc Richmond K. Turner đã bất ngờ tấn công lên Guadalcanal và Tulagi, đi đến ngoài khơi các bãi đổ bộ vào ngày 7 tháng 8, khiến quân Nhật hoàn toàn bị bất ngờ. Chiếc tàu khu trục đã bảo vệ cho các tàu vận tải trong khi binh lính đổ bộ, bắn rơi nhiều máy bay đối phương trong hai ngày đầu tiên.

Cùng các tàu tuần dương hạng nặng Vincennes, QuincyAstoria, Helm tuần tra tại vùng biển chung quanh đảo Savo trong đêm 7 tháng 8; và trong đêm 8 tháng 8, bốn chiếc này cùng với tàu khu trục Wilson đã tuần tra giữa các đảo Savo và Florida. Một nhóm khác gồm hai tàu tuần dương và hai tàu khu trục tuần tra về phía Nam, trong khi hai tàu khu trục BlueRalph Talbot được bố trí về phía Tây Bắc đảo Savo. Sự phối hợp các tình huống bất hạnh đã cho phép một lực lượng tuần dương-khu trục Nhật Bản dưới quyền Chuẩn đô đốc Admiral Mikawa tiếp cận đảo Savo mà không bị phát hiện. Thất bại trong việc truy tìm và nhận diện đối phương đã khiến không thể kịp thời phân tích tình huống nguy hiểm, và lực lượng canh phòng không đầy đủ gồm hai chiếc ngoài khơi đảo Savo đã không cảnh báo về các tàu chiến Nhật. Báo động được tàu khu trục Patterson đưa ra lúc khoảng 01 giờ 43 phút, chỉ vài giây trước khi hai quả ngư lôi đánh trúng HMAS Canberra thuộc nhóm phía Nam. Không lâu sau cả hai đội hình tàu tuần dương chịu đựng sự tấn công ác liệt từ phía Nhật.

Đang ở mạn trái phía mũi của Vincennes, Helm quay trở lại để trợ giúp các tàu tuần dương bị đánh trúng. Nó túc trực bên cạnh Astoria, đưa những người sống sót trở lại các tàu vận chuyển tại Guadalcanal, và rút lui cùng với lực lượng còn lại đến Nouméa vào ngày 13 tháng 8. Trận chiến đảo Savo là một thảm họa; nhưng cho dù bị đánh bại, các con tàu vẫn ngăn cản được phía Nhật tấn công các tàu vận chuyển mong manh tại Guadalcanal. Trong những tuần lễ tiếp theo, Helm tiếp tục ở lại vùng biển nguy hiểm gần Guadalcanal, hộ tống cac tàu vận chuyển và tuần tra. Nó đi đến Brisbane vào ngày 7 tháng 9, rồi lên đường ngay ngày hôm sau để hộ tống bảo vệ các tàu vận tải đi lại giữa AustraliaNew Guinea.

1943[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc tàu khu trục tiếp tục làm nhiệm vụ này trong vài tháng. Vào ngày 15 tháng 5, 1942, Helm đã trợ giúp việc tìm kiếm những người sống sót từ chiếc tàu bệnh viện Australia AHS Centaur vốn bị đắm do trúng ngư lôi phóng từ tàu ngầm Nhật Bản I-177 về phía Đông Nam mũi Moreton, gần Brisbane. Sau đó nó hộ tống những chiếc LST đi đến đảo Woodlark cho một cuộc đổ bộ không gặp kháng cự vào tháng 6, 1943 nhằm bảo vệ cho căn cứ quan trọng tại vịnh Milne. Trong khi đạo quân của Tướng Douglas MacArthur chuẩn bị tiến vào New Britain dưới sự che chở của hải lực, Helm bắn phá Gasmata vào ngày 29 tháng 11, 1943, và rồi lại khởi hành từ vịnh Milne vào ngày 14 tháng 12 dưới quyền Đô đốc Crutchley để chiếm đóng mũi Gloucester. Nó đã giúp vào việc bắn phá chuẩn bị, bắn pháo hỗ trợ gần sau cuộc đổ bộ ban đầu, và làm nhiệm vụ bảo vệ trong lúc các tàu vận tải được chất dỡ. Hoạt động của Lực lượng đổ bộ Đệ Thất hạm đội dưới quyền Đô đốc Daniel E. Barbey là một chiến dịch suôn sẻ và thành công, và ngay sau khi nơi đây được bình định, Helm cùng phần còn lại của hạm đội dưới quyền Đô đốc Crutchley di chuyển đến Saidor, nơi Đô đốc Barbey thực hiện một trong những bước đổ bộ "nhảy cóc" nổi tiếng nhất. Chiếc tàu khu trục đã hộ tống lực lượng tuần dương chống trả các cuộc tấn công từ trên không và mặt biển của đối phương.

1944[sửa | sửa mã nguồn]

Helm tiếp tục nhiệm vụ hộ tống tại các khu vực Guadalcanal và vịnh Milne, cho đến khi khởi hành vào ngày 19 tháng 2, 1944 để đi Trân Châu Cảng. Con tàu tiếp tục đi đến Xưởng hải quân Mare Island hộ tống cho thiết giáp hạm Maryland, đến nơi vào ngày 4 tháng 3.

Helm khởi hành từ San Francisco vào ngày 5 tháng 5, và sau khi đi đến Trân Châu Cảng năm ngày sau đó, nó tham gia các cuộc huấn luyện ôn tập tại vùng biển Hawaii. Nó đi đến Majuro vào ngày 4 tháng 6Kwajalein vào ngày 7 tháng 6 để gia nhập lực lượng hải quân được tập trung cho bước tiếp theo của cuộc chinh phục Thái Bình Dương: đổ bộ lên quần đảo Mariana. Nó gia nhập lực lượng tàu sân bay nhanh, Lực lượng Đặc nhiệm 58 dưới quyền Phó đô đốc Marc Mitscher, và khởi hành cùng đơn vị này từ Kwajalein vào ngày 7 tháng 6. Đội tàu sân bay nhanh bảo vệ các lối tiếp cận phía Tây từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 6, rồi hỗ trợ trên không cho cuộc đổ bộ, được thực hiện bởi đội đổ bộ của Đô đốc Kelly Turner ở cách xa đến 1.000 dặm (1.600 km) từ căn cứ tiền phương gần nhất ở Eniwetok. Lực lượng tàu sân bay nhanh rút lui khỏi một cuộc không kích xuống quần đảo Bonin vào ngày 18 tháng 6, và được bố trí để đánh trả hạm đội Nhật Bản khi chúng tiếp cận quần đảo Mariana cho một cuộc hải chiến quyết định.

Hai hạm đội khổng lồ tiếp cận nhau vào ngày 19 tháng 6 cho một cuộc đấu tay đôi tàu sân bay lớn nhất trong lịch sử. Bốn đợt không kích được tung ra nhắm vào hạm đội Hoa Kỳ, nhưng lực lượng tiêm kích tuần tra chiến đấu trên không cùng hỏa lực phòng không của các tàu nổi đã loại trừ các máy bay chiến đấu Nhật Bản. Dưới sự giúp đỡ của lực lượng tàu ngầm, Mitscher thành công trong việc đánh chìm hai tàu sân bay đối phương cũng như làm thiệt hại nặng không lực trên tàu sân bay đối phương, đến mức trận này còn có biệt danh "Cuộc săn vịt trời Mariana vĩ đại". Đô đốc Raymond A. Spruance đã bảo vệ được lực lượng đổ bộ trong một trận chiến mà tầm quan trọng cũng được phía Nhật Bản nhấn mạnh. Đô đốc Soemu Toyoda đã nói vào ngày 15 tháng 6: "Số phận của Đế quốc phụ thuộc vào một trận chiến này"; lặp lại những lời của Đô đốc Heihachiro Togo trong trận Hải chiến Tsushima.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Helm được tặng thưởng mười một Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Carroll 1941
  2. ^ Nimitz 1942

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]