USS Kearsarge (CV-33)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mercury On Deck - GPN-2000-001403.jpg
Tàu sân bay USS Kearsarge trên đường đi thu hồi tàu vũ trụ Mercury Faith 7, ngày 15 tháng 5 năm 1963
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Đặt tên theo: USS Kearsarge (1861)
Hãng đóng tàu: Xưởng đóng tàu New York
Đặt lườn: 1 tháng 3 năm 1944
Hạ thủy: 5 tháng 5 năm 1945
Đỡ đầu bởi: Aubrey W. Fitch
Hoạt động: 2 tháng 3 năm 1946
Ngừng hoạt động: 13 tháng 2 năm 1970
Xếp lớp lại: Tàu sân bay tấn công (CVA): 15 tháng 2 năm 1952
Tàu sân bay chống tàu ngầm (CVS): năm 1957
Xóa đăng bạ: tháng 5 năm 1973
Danh hiệu và
phong tặng:
2 Ngôi sao Chiến đấu (Chiến tranh Triều Tiên)
5 Ngôi sao Chiến đấu (Chiến tranh Việt Nam)
Số phận: Bị bán để tháo dỡ tháng 2 năm 1974
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Essex
Trọng tải choán nước: 27.100 tấn (tiêu chuẩn); 36.380 tấn (đầy tải)
Độ dài: 271 m (888 ft)
Sườn ngang: 28 m (93 ft) mực nước; 45 m (147 ft 6 in) chung
Mớn nước: 8,7 m (28 ft 5 in) tiêu chuẩn; 10,4 m (34 ft 2 in) đầy tải
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước Westinghouse
8 nồi hơi, áp suất 3.900 kPa (565 psi) ở nhiệt độ 450 °C (850 °F)
4 trục
công suất 150.000 mã lực (110 MW)
Tốc độ: 61 km/h (33 knot)
Tầm xa: 37.000 km ở tốc độ 28 km/h
(20.000 hải lý ở tốc độ 15 knot)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
3.448
Vũ trang: 4 × pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber nòng kép
4 × pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber nòng đơn
8 × pháo Bofors 40 mm 56 caliber bốn nòng
46 × pháo Oerlikons 20 mm 78 caliber nòng đơn
Bọc giáp: đai giáp 60 đến 100 mm (2,5 đến 4 inch)
sàn đáp và sàn bảo vệ 40 mm (1,5 inch)
vách ngăn 100 mm (4 inch)
40 mm (1,5 inch) bên cạnh và trên nóc tháp chỉ huy
60 mm (2,5 inch) bên trên bánh lái
Máy bay mang theo: 90–100 máy bay
Thiết bị bay: 1 × thang nâng cạnh sàn đáp
2 × thang nâng giữa

USS Kearsarge (CV/CVA/CVS-33) là một trong số 24 tàu sân bay thuộc lớp Essex của Hải quân Hoa Kỳ được hoàn tất trong hoặc ngay sau Thế Chiến II. Đây là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Mỹ mang cái tên này, được đặt theo tên một chiếc tàu xà-lúp trong cuộc Nội chiến Mỹ. Kearsarge được đưa ra hoạt động vào tháng 3 năm 1946, được hiện đại hóa vào đầu những năm 1950 thành một tàu sân bay tấn công (CVA), và đã tham gia hoạt động trong Chiến tranh Triều Tiên, nơi nó được tặng thưởng hai Ngôi sao Chiến đấu. Vào cuối những năm 1950, nó lại được cải biến thành một tàu sân bay chống tàu ngầm (CVS). Kearsarge là tàu thu hồi chính cho hai chuyến bay cuối cùng của chương trình thám hiểm không gian có người lái Mercury trong những năm 1962 - 1963. Chiếc tàu sân bay hoàn tất cuộc đời phục vụ của nó trong chiến tranh Việt Nam, nơi nó được tặng thưởng thêm năm Ngôi sao Chiến đấu.

Nó được cho ngừng hoạt động vào năm 1970; và được bán để tháo dỡ vào năm 1974.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Kearsarge là một trong số những chiếc Essex "thân dài" mà một số tác giả tách thành lớp Ticonderoga. Nó được đặt lườn vào ngày 1 tháng 3 năm 1944 tại Xưởng hải quân New York; được hạ thủy vào ngày 5 tháng 5 năm 1945, được đỡ đầu bởi Bà Aubrey W. Fitch, và được đưa vào hoạt động ngày 2 tháng 3 năm 1946, dưới sự chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Francis J. McKenna.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Kearsarge đi đến cảng nhà của nó tại Norfolk, Virginia vào ngày 21 tháng 4 năm 1946, và trong suốt năm tiếp theo sau, nó tiến hành hoạt động huấn luyện dọc theo bờ Đông Hoa Kỳ và tại vùng biển Caribbe. Nó rời Norfolk ngày 7 tháng 6 năm 1947 thực hiện chuyến đi huấn luyện học viên mới đến Anh Quốc.

USS Kearsarge vào ngày 13 tháng 4 năm 1946.

Sau khi quay trở về Hoa Kỳ vào tháng 8 năm 1947, chiếc tàu sân bay thực hành cơ động trong 10 tháng trước khi khởi hành rời Hampton Roads ngày 1 tháng 6 năm 1948 để tham gia phục vụ cùng Hạm đội 6. Trong lượt phục vụ tại Địa Trung Hải, các đơn vị của hạm đội này được đặt trong tình trạng báo động để duy trì hòa bình tại Trung Đông. Kearsarge quay trở về Quonset Point, Rhode Island vào ngày 2 tháng 10, và tiếp tụfc hoạt động dọc theo bờ biển Đại Tây Dương và tại khu vực Caribbe cho đến ngày 27 tháng 1 năm 1950, khi nó khởi hành đi sang bờ Tây Hoa Kỳ. Chiếc tàu sân bay về đến xưởng hải quân Puget Sound vào ngày 23 tháng 2, và được cho tạm ngưng hoạt động tại đây vào ngày 16 tháng 6 năm 1950 để được đại tu và hiện đại hóa theo chương trình SCB-27A cho phép nó đưa ra hoạt động máy bay phản lực kiểu mới.

Trong giai đoạn này, Kearsarge được sử dụng trong cảnh quay của bộ phim "The Caine Mutiny". Chuyến viếng thăm kết thúc của Đô đốc 'Bull Halsey' được quay trên USS Kearsarge (CV 33), vào lúc này đang được ngưng hoạt động để hiện đại hóa.

Chiến tranh Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Kearsarge được cho hoạt động trở lại vào ngày 15 tháng 2 năm 1952 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Louis B. French. Sau chuyến đi thử máy, chiếc tàu sân bay rời San Diego ngày 11 tháng 8 tiến hành các hoạt động huấn luyện bay khẩn trương tại vùng biển Hawaii. Sau khi đạt được tình trạng sẵn sàng chiến đấu, nó khởi hành đi Viễn Đông để tham gia các hoạt động tác chiến trong Chiến tranh Triều Tiên. Đi đến Yokosuka ngày 8 tháng 9, Kearsarge gia nhập nhóm các tàu sân bay nhanh thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 77 ngoài khơi bờ biển Triều Tiên sáu ngày sau. Trong vòng năm tháng tiếp theo sau, máy bay của nó đã thực hiện gần 6.000 phi vụ chiến đấu chống lại lực lượng cộng sản tại Bắc Triều Tiên, gây thiệt hại đáng kể cho các vị trí của đối phương. Nó hoàn tất lượt phục vụ vào cuối tháng 2 năm 1953, và quay về cảng nhà tại San Diego vào ngày 17 tháng 3. Trong khi hoạt động tại Triều Tiên, con tàu được xếp lại lớp thành một tàu sân bay tấn công mang ký hiệu CVA-33.

Viễn Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Kearsarge sau khi được hiện đại hóa theo chương trình SCB-27A.

Kearsarge lại lên đường đi đến Viễn Đông vào ngày 1 tháng 7 năm 1953 và hoạt động cùng lực lượng tàu sân bay nhanh của Đệ Thất hạm đội trong việc thi hành việc ngừng bắn đầy khó khăn tại Triều Tiên. Chiếc "Mighty Kay" (sau ba lần va chạm cùng các con tàu khác trong một thời gian ngắn, bao gồm chiếc tàu khách Oriana, Kearsarge còn được đặt tên lóng là "Rammin Rankin's Krashbarge" và "The Mighty Kay-RUNCH") còn tiếp tục tuần tra canh phòng tại eo biển Đài Loan nhằm ngăn ngừa Trung Cộng tấn công Trung Hoa dân quốc tại Đài Loan. Kearsarge quay về San Diego vào ngày 18 tháng 1 năm 1954 tiếp tục các hoạt động huấn luyện thường xuyên ngoài khơi bờ biển California. Rời San Diego vào ngày 7 tháng 10, chiếc tàu sân bay thực hiện lượt bố trí hoạt động thứ ba tại Viễn Đông. Trong khi hoạt động cùng Đệ Thất hạm đội, nó đã trực chiến để hỗ trợ lực lượng Trung Hoa dân quốc triệt thoái khỏi đảo Tachen. Từ ngày 6 đến ngày 13 tháng 2 năm 1955, Kearsarge hỗ trợ các đơn vị khác của hạm đội trong việc triệt thoái thành công 18.000 thường dân và 20.000 nhân viên quân sự khỏi các hòn đảo. Chuyến đi của nó kết thúc tại San Diego vào ngày 12 tháng 5, và trong ba năm tiếp theo sau, chiếc tàu sân bay tiếp tục thực hiện các hoạt động thường xuyên ngoài khơi bờ biển California cũng như được bố trí hằng năm đến Viễn Đông.

Trong những năm 1956-1957, Kearsarge được hiện đại hóa theo chương trình SCB-125, chủ yếu là tích hợp một mũi tàu kín chống bão và một sàn đáp chéo góc. Vào mùa Hè năm 1958, Kearsarge được trang bị như một tàu sân bay chống tàu ngầm và được xếp lại lớp thành CVS-33. Sau khi tiến hành các hoạt động huấn luyện khẩn trương cho vai trò mới, chiếc tàu sân bay lên đường ngày 5 tháng 9 năm 1959 để hoạt động cùng Đệ Thất hạm đội tại Viễn Đông. Vào đầu lượt phục vụ này, Nhật Bản phải chịu đựng một cơn bão khốc liệt, và Kearsarge đã đóng một vai trò quan trọng trong việc cứu giúp các nạn nhân. Máy bay của nó đã chuyển các nhóm y tế và cứu trợ, trong khi thủy thủ đoàn và các đội bay quyên góp quần áo và tiền bạc cho các nạn nhân. Sau khi tham gia các đợt tập trận trong khối SEATO và của Hạm đội 7, nó rời Yokosuka vào ngày 3 tháng 3 năm 1960 quay trở về nhà. Ba ngày sau, trong một vùng biển bão tố cách đảo Wake 1.930 km (1.200 dặm), bốn thủy thủ Nga được cứu thoát sau 49 ngày bị trôi dạt trên biển trên chiếc xuồng đổ bộ hỏng máy của họ. Họ được quay trở về đất nước sau khi Kearsarge về đến Alameda, California ngày 15 tháng 3; và chiếc tàu sân bay nhận được những lời cảm ơn từ Chính phủ Liên Xô do hành động cao đẹp này.

Một năm hoạt động huấn luyện được tiếp nối bởi một đợt bố trí mới từ San Diego được bắt đầu vào ngày 3 tháng 3 năm 1961. Chiếc tàu sân bay chống tàu ngầm di chuyển đến vùng biển Đông Nam Á khi lực lượng Cộng sản tăng cường các hoạt động của họ nhằm lật đổ chính quyền tại Lào. Việc biểu dương lực lượng của Hạm đội 7 đã góp phần làm lắng dịu sự căng thẳng đó. Sau sáu tháng hoạt động tại Viễn Đông, Kearsarge quay về Puget Sound vào ngày 1 tháng 11 tiếp tục thực hiện giai đoạn hai của việc hiện đại hóa.

Kế hoạch Mercury[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu vũ trụ Sigma 7 đang được kéo lên USS Kearsarge.

Sau khi hoàn tất việc sửa chữa và huấn luyện, Kearsarge rời Long Beach, California vào ngày 1 tháng 8 năm 1962 để hoạt động như tàu thu hồi trong một chuyến bay của Kế hoạch Mercury: tàu vũ trụ Sigma 7 đã thực hiện chuyến bay quanh quỹ đạo Trái Đất cùng phi hành gia Walter Schirra, và đã hạ cánh xuống Thái Bình Dương. Vào ngày 3 tháng 10, chiếc tàu sân bay bước vào kỷ nguyên vũ trụ khi thu hồi Schirra cùng con tàu của ông và đưa về Honolulu trước khi bay trở về Mỹ.

Kearsarge trở lại các nhiệm vụ tập trận và huấn luyện trong sáu tháng trước khi quay trở về Trân Châu Cảng vào ngày 29 tháng 4 năm 1963 để một lần nữa tham gia vào chương trình thám hiểm vũ trụ. Chiếc tàu sân bay lặp lại sứ mạng của mình khi vớt nhà du hành vũ trụ Gordon Cooper vào ngày 16 tháng 5 năm 1963 sau chuyến bay 22 vòng quanh quỹ đạo Trái Đất trên tàu vũ trụ "Faith 7."

Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Kearsarge như một tàu sân bay chống tàu ngầm trong những năm 1960.

Sau khi đưa nhà phi hành vũ trụ quay trở về Trân Châu Cảng, Kearsarge lại khởi hành vào ngày 4 tháng 6 thực hiện chuyến đi thứ tám đến Viễn Đông. Hoạt động cùng với Hạm đội 7 bao gồm việc canh phòng tại một khu vực đầy dẫy những sự bất trắc tại Đông Nam Á. Sau đó Kearsarge quay về Long Beach vào ngày 3 tháng 12 và thực hành huấn luyện ngoài khơi California.

Ngày 19 tháng 6 năm 1964, chiếc tàu sân bay chống tàu ngầm được bố trí lượt phục vụ thứ chín tại Viễn Đông. Đi đến Yokosuka vào ngày 30 tháng 7, Kearsarge được phái đến biển Nam Trung Quốc tiếp theo sau sự kiện vịnh Bắc Bộ, mà phía Mỹ cho là tàu phóng lôi Bắc Việt Nam đã tấn công các tàu khu trục Mỹ trong vịnh Bắc Bộ. Trong khi máy bay của Hải quân Mỹ phá hủy các kho dầu và phương tiện tiếp liệu tại Bắc Việt Nam, Kearsarge đã hỗ trợ bảo vệ chống tàu ngầm cho lực lượng Hạm đội 7. Chiếc tàu sân bay quay về Long Beach vào ngày 16 tháng 12.

Sau một đợt đại tu kéo dài đến hết nữa đầu năm 1965, Kearsarge hoạt động tại khu vực bờ Tây Hoa Kỳ cho đến khi khởi hành đi Viễn Đông vào ngày 9 tháng 6 năm 1966. Ghé qua Hawaii và Nhật Bản, nó đi đến "Yankee Station" vào ngày 8 tháng 8 và hoạt động ngoài khơi Việt Nam cho đến ngày 24 tháng 10. Ngày hôm sau nó khởi hành hướng đến khu vực Kuala Lumpur rồi thả neo tại eo biển Malacca vào ngày 30 tháng 10. Nó từ vịnh Subic quay trở lại "Yankee Station" vào ngày 5 tháng 11 và hoạt động tại đây cho đến ngày 23 tháng 11. Ngày hôm sau, chiếc tàu sân bay quay trở về nhà ngang qua Hong Kong và Nhật Bản, đi đến San Diego vào ngày 20 tháng 12. Kearsarge hoạt động tại khu vực bờ Tây Hoa Kỳ cho đến khi khởi hành rời San Diego vào ngày 18 tháng 8 năm 1967 và đến Trân Châu Cảng 10 ngày sau đó chuẩn bị cho các hoạt động tiếp theo sau.

USS Kearsarge vào năm 1965.

Trở nên dư thừa do việc cắt giảm hạm đội vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, Kearsarge được cho ngừng hoạt động vào ngày 13 tháng 2 năm 1970. Sau ba nằm nằm trong lực lượng dự bị, nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào tháng 5 năm 1973 và được bán để tháo dỡ vào tháng 2 năm 1974.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]