USS Mahan (DD-102)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Mahan, DD-102
Tàu khu trục USS Mahan
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Mahan
Đặt tên theo: Alfred Thayer Mahan
Hãng đóng tàu: Xưởng tàu Fore River, Quincy, Massachusetts
Đặt lườn: 4 tháng 5, 1918
Hạ thủy: 4 tháng 8, 1918
Đỡ đầu bởi: Ellen K. Mahan
Nhập biên chế: 24 tháng 10, 1918
Xuất biên chế: 1 tháng 5, 1930
Xếp lớp lại: DM-7, 17 tháng 7, 1920
Xóa đăng bạ: 22 tháng 10, 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 17 tháng 1, 1931
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
133 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Mahan (DD-102) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và sau đó mang ký hiệu lườn DM-7 như một tàu rải mìn hạng nhẹ. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Chuẩn đô đốc Alfred Thayer Mahan, nhà lý thuyết chiến lược và sử gia hải quân.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Mahan được đặt lườn vào ngày 4 tháng 5, 1918 tại xưởng tàu Fore River của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationQuincy, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 4 tháng 8, 1918, được đỡ đầu bởi Cô Ellen K. Mahan, cháu gái Chuẩn đô đốc Mahan, và được đưa ra hoạt động vào ngày 24 tháng 10, 1918 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân F. P. Conger.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy, Mahan hoạt động ngoài khơi vùng biển Cuba cho đến tháng 5, 1919, khi nó đi đến vùng quần đảo Azores, trở thành một trong những tàu chỉ đường cho chuyến bay vượt đại dương của các thủy phi cơ NC-1, NC-3NC-4 của Hải quân. Quay trở về Boston vào ngày 21 tháng 6 sau khi ghé qua Brest, Pháp, Mahan được cải biến thành một tàu rải mìn hạng nhẹ, rồi được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới DM-7 vào ngày 17 tháng 7, 1920.

Ngoại trừ một chuyến đi đến Trân Châu Cảng để thực tập cơ động vào đầu năm 1925, Mahan chủ yếu hoạt động dọc theo bờ Đông Hoa Kỳ, tại vùng biển Caribe và vùng kênh đào Panama trong mười năm sau đó. Nó tham gia các cuộc thực tập huấn luyện hạm đội, tuần tra trong các giải đua thuyền buồm quốc tế, tham gia cứu nạn cho tàu ngầm S-51 vào tháng 9, 1925 ngoài khơi đảo Block và tàu ngầm S-4 trong giai đoạn từ ngày 17 tháng 12, 1927 đến giữa tháng 3, 1928 ngoài khơi Provincetown, Massachusetts. Nó cũng tiến hành các chuyến đi huấn luyện lực lượng dự bị đến vùng biển Caribe từ năm 1928 đến tháng 9, 1929. Ngoài các nhiệm vụ thông thường, Mahan còn phục vụ như một tàu thử nghiệm các thiết bị mới mà Hải quân sử dụng trong tương lai.

Vào ngày 20 tháng 9, 1929, Mahan đi vào xưởng hải quân Philadelphia, nơi nó được cho ngừng hoạt động vào ngày 1 tháng 5, 1930. Tên nó được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 22 tháng 10, và nó được bán vào ngày 17 tháng 1, 1931 cho hãng Boston Iron & Metal CompanyBaltimore, Maryland để tháo dỡ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]