USS Monaghan (DD-354)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Monaghan (DD-354)
Tàu khu trục USS Monaghan (DD-354)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Monaghan (DD-354)
Đặt tên theo: John R. Monaghan
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Boston
Đặt lườn: 21 tháng 11, 1933
Hạ thủy: 9 tháng 1, 1935
Đỡ đầu bởi: cô Mary F. Monaghan
Nhập biên chế: 19 tháng 4, 1935
Danh hiệu và
phong tặng:
12 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận: Đắm trong một cơn bão ngoài khơi Philippines, 18 tháng 12, 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Farragut
Trọng tải choán nước: 1.365 tấn Anh (1.387 t) (tiêu chuẩn)
Độ dài: 341 ft 3 in (104,01 m)
Sườn ngang: 34 ft 3 in (10,44 m)
Mớn nước: 16 ft 2 in (4,93 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Curtis
4 × nồi hơi ống nước
2 × trục
công suất 42.800 hp (31.900 kW)
Tốc độ: 37 hải lý một giờ (69 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
160 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang:

ban đầu: 5 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber đa dụng (5×1)
4 × súng máy M2 Browning.50 caliber (4×1)
8 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (2×4)
1943: 4 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber đa dụng (4×1)
4 × pháo phòng không Bofors 40 mm (2×2)
5 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm (5×1)
8 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (2×4)

2 × đường ray thả mìn sâu

USS Monaghan (DD-354) là một tàu khu trục lớp Farragut được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Thiếu úy John R. Monaghan (1873-1899), sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ tử trận trong cuộc Nội chiến Samoa thứ hai. Monaghan đã có mặt tại Trân Châu Cảng vào lúc diễn ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng châm ngòi chiến tranh, đánh chìm một tàu ngầm bỏ túi đối phương trong trận này, và đã tiếp tục phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai cho đến khi bị đắm trong một cơn bão ngoài khơi Philippines vào cuối năm 1944. Nó được tặng thưởng 12 Ngôi sao Chiến trận do thành tích hoạt động trong chiến tranh.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Monaghan được đặt lườn vào ngày 21 tháng 11, 1933 tại Xưởng hải quân Boston. Nó được hạ thủy vào ngày 9 tháng 1, 1935, được đỡ đầu bởi cô Mary F. Monaghan, cháu gái Thiếu úy Monaghan; và được đưa ra hoạt động vào ngày 19 tháng 4, 1935 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân R. R. Thompson.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi được đưa vào hoạt động, Monaghan hoạt động chủ yếu tại khu vực Bắc Đại Tây Dương, làm nhiệm vụ huấn luyện học viên mới.

Đang khi làm nhiệm vụ tại Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12, 1941, Monaghan nhận được mệnh lệnh lúc 07 giờ 51 phút gia nhập cùng tàu khu trục Ward, vốn vừa đánh chìm một tàu ngầm không rõ lai lịch ngoài khơi lối ra vào cảng. Bốn phút sau, trước khi nó có thể khởi hành, máy bay của Hải quân Đế quốc Nhật Bản bắt đầu tấn công. Nó khai hỏa dàn hỏa lực phòng không, và đến 08 giờ 27 phút đã đang trên đường đi để gia nhập cùng Ward khi nó phát hiện một tàu ngầm bỏ túi lớp Ko-hyoteki trong cảng. Monaghan hướng mũi đến kẻ xâm nhập, húc sượt qua đối phương rồi tiêu diệt nó bằng hai quả mìn sâu. Sau đó nó đi ra bên ngoài cảng, và đã tuần tra ngoài khơi trong tuần lễ tiếp theo trước khi gia nhập cùng tàu sân bay Lexington trong một nỗ lực giải vây cho đảo Wake; tuy nhiên Wake thất thủ trước khi lực lượng của Lexington có thể trợ giúp. Trên đường quay trở về, nó đã cùng các tàu chị em DaleAylwin, tấn công liên tiếp vào một tàu ngầm đối phương, buộc đối thủ phải trồi lên mặt nước và để lại những vệt dầu loang lớn.

Sau khi tuần tra và trinh sát ngoài khơi Trân Châu Cảng cùng đội của Lexington, Monaghan làm nhiệm vụ hộ tống các đoàn tàu vận tải đi và về từ vùng bờ Tây trước khi gia nhập Lực lượng đặc nhiệm 11, và đã hộ tống cho Lexington khởi hành từ Trân Châu Cảng vào ngày 15 tháng 4, 1942 hướng sang khu vực Nam Thái Bình Dương. Vào lúc quân Nhật đang đe dọa chiếm đóng Port Moresby, Papua New Guinea, các tuyến đường giao thông hàng hải đến AustraliaNew Zealand cũng gặp mối nguy hiểm tương tự; vì vậy hải quân Mỹ đã phải phản ứng nhanh chóng và quyết liệt để ngăn chặn. Hoạt động đầu tiên diễn ra vào ngày 4 tháng 5, khi máy bay từ tàu sân bay Yorktown đã đánh phá tàu bè Nhật tại TulagiGavutu. Giờ đây lực lượng kết hợp của hai tàu sân bay sẽ phải đối đầu với một lực lượng tấn công tàu sân bay đối phương đang tiến vào vùng biển Coral. Vào ngày 7 tháng 5, máy bay trinh sát Mỹ phát hiện lực lượng tấn công đổ bộ, gồm nhiều tàu vận chuyển được chiếc tàu sân bay hạng nhẹ Shōhō bảo vệ. Máy bay cất cánh từ LexingtonYorktown đã đánh chìm Shōhō. Ngày hôm sau, trước khi diễn ra cuộc đối đầu chính giữa hai lực lượng không quân tàu sân bay, Monaghan được cho tách ra để chuyển những thông điệp quan trọng, nhắm giúp cho lực lượng chính duy trì việc giữ im lặng vô tuyến. Nó sau đó được phái đi tìm kiếm và cứu giúp những người sống sót của chiếc tàu chở dầu hạm đội Neosho và tàu khu trục Sims, vốn bị phía Nhật Bản đánh chìm vào ngày 7 tháng 5. Tuy nhiên, do địa điểm bị đánh chìm được báo cáo nhầm, nó đã không thể cứu vớt được người nào, và đã tiếp tục mang thông điệp đến Nouméa trước khi gia nhập Lực lượng đặc nhiệm 16 kịp lúc để quay trở về Trân Châu Cảng vào ngày 26 tháng 5.

Hai ngày sau, Monaghan lên đường cho trận chiến mang tính quyết định, trận Midway. Phía Nhật Bản quyết định chiếm đảo san hô Midway bằng một kế hoạch phức tạp, nhưng Tình báo Hải quân Hoa Kỳ đã phát hiện được kế hoạch cho các chỉ huy phía Mỹ, vốn biết rõ khi nào và tại đâu mà lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay Nhật sẽ tấn công. Cho dù kém ưu thế về lực lượng, phía Hoa Kỳ đã đánh chìm bốn tàu sân bay cùng một tàu tuần dương hạng nặng đối phương trong một trận chiếc bắt đầu từ đêm 3 tháng 6. Trong hai ngày đầu tiên của trận đánh, Monaghan đã hộ tống cho tàu sân bay Enterprise, và vào cuối buổi sáng ngày 5 tháng 6 đã nhận lệnh cứu vớt đội bay một chiếc thủy phi cơ bị rơi. Lúc 18 giờ 30 phút, nó tiếp cận mạn chiếc Yorktown đang bị hư hại nặng, tham gia cùng các tàu khu trục khác tìm cách cứu chiếc tàu sân bay và bảo vệ nó không bị hư hại thêm. Một tàu ngầm Nhật đã xâm nhập vòng rào bảo vệ, đánh chìm cả Yorktown cùng tàu khu trục Hammann; chiếc tàu sân bay tiếp tục nổi trong 16 giờ tiếp theo trước khi đắm. Monaghan, GwinHughes đã tấn công và làm hư hại nặng tàu ngầm đối phương.

Sau chiến thắng, lực lượng quay trở về Trân Châu Cảng vào ngày 13 tháng 6. Monaghan được gửi lên phía Bắc để trợ giúp cho việc đối phó mối đe dọa của quân Nhật tại khu vực quần đảo Aleut. Bị hư hại do tai nạn va chạm trong hoàn cảnh sương mù dày đặc phía Bắc, chiếc tàu khu trục được sửa chữa tại Dutch Harbor và Trân Châu Cảng, rồi hộ tống một đoàn tàu vận tải đi về vùng bờ Tây trên đường quay trở về Xưởng hải quân Mare IslandVallejo, California để tiếp tục được sửa chữa. Nó quay trở lại khu vực Nam Thái Bình Dương, đi đến Nandi, Fiji, vào ngày 17 tháng 11. Trong cảng Nouméa, nó bị hư hại chân vịt do một chướng ngại vật dưới nước, nên lại phải quay về Trân Châu Cảng để được thay chân vịt, hoàn tất vào ngày 21 tháng 2, 1943.

Một lần nữa tại quần đảo Aleut, Monaghan gia nhập Đội đặc nhiệm 16.69, một lực lượng tuần tiễu được hình thành chung quanh các tàu tuần dương Richmond and Salt Lake City. Vào ngày 26 tháng 3, nhóm tác chiến này đã đụng độ với lực lượng Nhật Bản trong Trận chiến quần đảo Komandorski. Cho dù bị áp đảo lực lượng, phía Hoa Kỳ đã bắn pháo và phóng ngư lôi có hiệu quả, buộc đối phương phải rút lui. Các nhiệm vụ tuần tra và thỉnh thoảng bắn phá bờ biển trong suốt quần đảo Aleut, cùng với các nhiệm vụ hộ tống, được tiếp nối trong suốt mùa Hè. Đáng ghi nhận bao gồm một cuộc đụng độ dẫn hướng bằng radar với một mục tiêu không xác định vào ngày 20 tháng 6, và cuộc săn đuổi một tàu ngầm Nhật Bản hai ngày sau đó vốn đưa đến kết quả tàu ngầm đối phương bị mắc cạn trên đá ngầm và phải bị bỏ lại. Đối thủ được xác định sau đó là chiếc I-7 đang tham gia vào việc triệt thoái binh lính khỏi Kiska.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Monaghan được tặng thưởng mười hai Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]