USS Northampton (CA-26)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Northampton (CA-26).jpg
Tàu tuần dương USS Northampton (CA-26). Những hình sóng vẽ bên mạn tàu gây một ấn tượng sai lầm về tốc độ của con tàu
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Hãng đóng tàu: Bethlehem Steel tại Quincy, Massachusetts
Đặt lườn: 12 tháng 4 năm 1928
Hạ thủy: 5 tháng 9 năm 1929
Đỡ đầu bởi: Calvin Coolidge
Hoạt động: 17 tháng 5 năm 1930
Danh hiệu và
phong tặng:
6 Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị đánh chìm trong trận Tassafaronga ngày 30 tháng 11 năm 1942
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Northampton
Trọng tải choán nước: 9.050 tấn (tiêu chuẩn)
Độ dài: 182,9 m (600 ft 3 in)
Sườn ngang: 20,1 m (66 ft 1 in)
Mớn nước: 5,0 m (16 ft 4 in)
Động cơ đẩy: 4 × Turbine hơi nước Parsons
8 × nồi hơi White-Forster
4 × trục
công suất 107.000 mã lực (79,8 MW)
Tốc độ: 60 km/h (32,5 knot)
Tầm xa: 24.000 km ở tốc độ 28 km/h
(13.000 hải lý ở tốc độ 15 knot)
Tầm hoạt động: Dầu đốt: 1.500 tấn
Thủy thủ đoàn: 621
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
Radar RCA CXAM[1]
Vũ trang: 9 × pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber Mark 10/11 (3×3)
4 × pháo 127 mm (5 inch)/25 caliber Mark 10[2]
9 × ống phóng ngư lôi 533 mm
24 × pháo phòng không Bofors 40 mm (4×4)
28 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp: 76 mm (3 inch) trên động cơ;
95 mm (3,75 inch) trên hầm đạn
sàn tàu: 25 mm (1 inch) trên động cơ;
50 mm (2 inch) trên hầm đạn
tháp pháo: mặt trước 63 mm (2,5 inch); nóc 50 mm (2 inch); hông và phía sau 19 mm (0,75 inch)
tháp súng nhỏ: 38 mm (1,5 inch)
Máy bay mang theo: 2 × thủy phi cơ

USS Northampton (CA-26) là một tàu tuần dương hạng nặng của Hải quân Hoa Kỳ, là chiếc dẫn đầu trong lớp của nó. Được đưa vào hoạt động năm 1930, nó đã phục vụ tại Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, và bị đánh chìm bởi ngư lôi Nhật Bản trong trận Tassafaronga vào ngày 30 tháng 11 năm 1942.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Vốn vẫn bị hạn chế về tải trọng và cỡ pháo bởi Hiệp ước Hải quân Washington, nhưng mang nhiều đặc tính cải tiến so với lớp Pensacola dẫn trước, lớp Northampton mang chín khẩu 203 mm (8 inch) trên ba tháp pháo ba nòng, một cách sắp xếp tối ưu được tiếp nối bởi mọi tàu tuần dương hạng nặng Hoa Kỳ sau này.

Northampton được đặt lườn vào ngày 12 tháng 4 năm 1928 tại xưởng đóng tàu Fore River của hãng Bethlehem Steel Corp. tại Quincy, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 5 tháng 9 năm 1929, được đỡ đầu bởi Bà Calvin Coolidge, và được đưa ra hoạt động vào ngày 17 tháng 5 năm 1930 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Walter N. Vernou.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm giữa hai cuộc thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu tuần dương Northampton vào năm 1930.

Gia nhập Hạm đội Đại Tây Dương, Northampton thực hiện chuyến đi thử máy đến vùng biển Địa Trung Hải vào mùa Hè năm 1930, rồi sau đó tham gia các cuộc thực tập huấn luyện thường xuyên của hạm đội tại vùng biển Caribbe và khu vực kênh đào Panama; thỉnh thoảng đi đến tận Thái Bình Dương để tập trận cùng các tàu tuần dương khác và đủ loại tàu chiến khác. Được xếp lại lớp thành ký hiệu lườn CA-26 vào năm 1931, nó hoạt động chủ yếu tại Thái Bình Dương từ năm 1932, cảng nhà đặt tại San Pedro, California, và sau này là tại Trân Châu Cảng. Northampton là một trong số sáu tàu chiến được trang bị kiểu radar mới RCA CXAM vào năm 1940.[1]

Mở đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Northampton đang ở ngoài biển cùng với Đô đốc William Halsey, Jr. trong đội đặc nhiệm của tàu sân bay Enterprise khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, quay trở về cảng vào ngày hôm sau. Ngày 9 tháng 12, lực lượng khởi hành để tìm kiếm đối phương về phía Đông Bắc Oahu, truy quét về phía Nam cho đến đảo Johnston, rồi lại trở lên phía Bắc để săn đuổi đối phương về phía Tây đảo Lisianskiđảo san hô Midway. Vào ngày 11 tháng 12, tàu khu trục Craven bị hư hại khi nó va chạm với Northampton đang khi được tiếp nhiên liệu.[3]

Cho đến tháng 1 năm 1942, Northampton tham gia các cuộc truy tìm như vậy cho đến khi được tách ra cùng với Salt Lake City để nả pháo xuống Wotje vào ngày 1 tháng 2. Cuộc bắn phá không chỉ phá hủy các tòa nhà và kho nhiên liệu trên đảo, mà còn đánh chìm hai chiếc tàu Nhật. Một cuộc tấn công tương tự cũng được tung ra nhắm vào đảo Wake vào ngày 24 tháng 2, và mặc dù phải chịu đựng hỏa lực phản pháo căng thẳng của đối phương, các khẩu pháo của Northampton cùng lực lượng của nó đã làm phát sinh các đám cháy lớn trên đảo và đánh chìm một sà lan nạo vét trong vũng biển. Khi Northampton rút lui khỏi đảo, nó bị thủy phi cơ cùng với máy bay đối phương đặt căn cứ trên bờ và máy bay tuần tra tấn công, nhưng tất cả đều bị tiêu diệt hay đánh đuổi.

Vào ngày 4 tháng 3, lực lượng tung máy bay ra thực hiện một cuộc tấn công lên đảo Marcus, rồi sau đó đổi hướng sang phía Đông quay trở về Trân Châu Cảng. Vào đầu tháng 4, lực lượng đặc nhiệm của Enterprise, bao gồm Northampton, một lần nữa khởi hành để gia nhập cùng lực lượng của tàu sân bay Hornet để thực hiện cuộc không kích Doolittle xuống Tokyo vào ngày 18 tháng 4. Một lần nữa các con tàu được tiếp liệu tại Trân Châu Cảng, rồi khởi hành hướng đến khu vực Tây Nam Thái Bình Dương, nhưng chỉ kịp đến nơi sau khi trận chiến biển Coral đã kết thúc. Quay trở lại Trân Châu Cảng, Northampton chuẩn bị cho các hoạt động sắp tới tại trận Midway, khi nó tham gia hộ tống Enterprise. Trong các ngày 45 tháng 6, các tàu sân bay Mỹ đã tung máy bay ra trong một cuộc chạm trán đưa đến chiến thắng lớn cho phía Đồng Minh, đẩy lui quân Nhật và gây cho họ một tổn thất lớn khi đánh chìm bốn tàu sân bay. Trong suốt trận Midway, Northampton bảo vệ cho tàu sân bay của mình và cùng với nó an toàn quay trở về Trân Châu Cảng vào ngày 13 tháng 6.

Vào giữa tháng 8, Northampton lại lên đường hướng đến khu vực Tây Nam Thái Bình Dương để tham gia hoạt động trong Chiến dịch quần đảo Solomon. Nó tuần tra về phía Đông Nam San Cristobal thuộc quần đảo Solomon, nơi mà vào ngày 15 tháng 9, lực lượng của nó bị tàu ngầm đối phương tấn công, vốn đã làm hư hại tàu sân bay Wasp cùng thiết giáp hạm North Carolina, và đã đánh chìm tàu khu trục O'Brien chỉ cách Northampton 720 m (800 yard) về bên mạn trái. Giờ đây di chuyển cùng với Hornet, Northampton hộ tống cho chiếc tàu sân bay trong các cuộc tấn công lên đảo Bougainville vào ngày 5 tháng 10.

Trong trận chiến quần đảo Santa Cruz vào ngày 26 tháng 10, vốn đã diễn ra mà không có sự tiếp xúc nào với lực lượng tàu nổi đối phương, Northampton đã nỗ lực hỗ trợ cho Hornet vốn bị hư hại nặng bởi máy bay đối phương, và cung cấp sự bảo vệ phòng không trong khi tìm cách kéo con tàu bị thương nặng. Khi số phận hầu như đã rõ ràng, chiếc tàu sân bay sau đó bị đánh đắm bởi ngư lôi và hải pháo của tàu khu trục, và lực lượng Mỹ rút lui về hướng Tây Nam.

TrậnTassafaronga[sửa | sửa mã nguồn]

Northampton đang nỗ lực kéo tàu sân bay Hornet bị hư hại trong Trận chiến quần đảo Santa Cruz vào ngày 26 tháng 10 năm 1942

Sau đó, Northampton hoạt động cùng một lực lượng tàu tuần dương-tàu khu trục nhằm ngăn cản quân Nhật tăng viện cho lực lượng của họ đang trú đóng trên đảo Guadalcanal. Trận Tassafaronga bắt đầu 40 phút trước nữa đêm ngày 30 tháng 11, khi ba tàu khu trục Mỹ đã bất ngờ tấn công bằng ngư lôi vào hạm đội Nhật Bản. Tất cả các tàu chiến Mỹ sau đó nổ súng, khiến đối phương bị bất ngờ đã không thể phản pháo trong vòng bảy phút. Hai trong số các tàu tuần dương Mỹ bị trúng ngư lôi trong vòng một phút, và sau mười phút nữa là một chiếc thứ ba, tất cả đều bị buộc phải rút lui. Northampton cùng tàu tuần dương hạng nhẹ Honolulu và sáu tàu khu trục tiếp tục cuộc chiến đấu ác liệt. Lúc gần cuối trận chiến, Northampton bị đánh trúng hai quả ngư lôi, xé toang một lổ lớn bên mạn trái và làm bong sàn tàu và các vách ngăn. Các đám cháy dầu lan rộng khắp con tàu, nó nhanh chóng bị ngập nước và bắt đầu nghiêng. Sau ba giờ, lệnh bỏ tàu được ban ra khi nó bắt đầu chìm với phần đuôi tàu chìm trước. Việc bỏ tàu diễn ra có trật tự và được kiểm soát nên tổn thất về nhân mạng rất thấp, và những người sống sót nhanh chóng được vớt trong vòng một giờ bởi các tàu khu trục.

Trong khi trận chiến này là một thất bại chiến thuật về phía Mỹ, khi cả ba tàu tuần dương kia đều bị hư hại nặng và Northampton bị mất đổi lấy có một tàu khu trục Nhật bị đánh chìm; phía Nhật phải hủy bỏ một đợt tăng viện lớn, khiến kết quả của chiến dịch cuối cùng lại là một thắng lợi chiến lược cho phía Đồng Minh.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Northampton được tặng thưởng sáu Ngôi sao Chiến đấu do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Một sĩ quan cao cấp trên Northampton đã hy sinh trong trận Tassafaronga là Máy trưởng, Trung tá Hải quân Hilan Ebert ở Alliance, Ohio. Để tưởng nhớ ông, tàu khu trục hộ tống USS Ebert (DE-768), đặt theo tên của Trung tá Ebert, đã được hạ thủy vào ngày 11 tháng 5 năm 1944 bởi hãng Tampa Shipbuilding Co., Inc. tại Tampa, Florida. Con tàu được đỡ đầu bởi vợ góa của Trung tá Ebert, Bà Hilan Ebert. Trong buổi lễ hạ thủy còn có sự hiện diện của mẹ ông và hai con trai, Scott và David.

Hư cấu trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Northampton đóng vai trò nổi bật trong một quyển tiểu thuyết của Herman Wouk tựa War and Remembrance trong đó nhân vật Victor Henry chỉ huy một tàu chiến ngoài biển. Hoạt động của con tàu trong cuốn sách tương tự như trong đời thực. Cuốn tiểu thuyết có một đoạn bàn luận về những thỏa hiệp trong thiết kế ảnh hưởng đến lớp tàu Northampton do Hiệp ước Hải quân Washington năm 1920 gây ra.

Northampton cũng được liên hệ đến trong bộ phim Navy Blue and Gold năm 1937, trong đó diễn viên James Stewart đóng vai một thủy thủ từng phục vụ trên Northampton trước khi được cử đi học tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ tại Annapolis. Nhân vật của Stewart đã từng chơi cho đội bóng bầu dục của Northampton, và đội này là đội vô địch của hạm đội.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thíchS[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Macintyre, Donald, CAPT RN (tháng 9 năm 1967). Shipborne Radar. United States Naval Institute Proceedings. 
  2. ^ Fahey 1941, trang 9
  3. ^ Cressman, Robert (2000). “Chapter III: 1941”. The official chronology of the U.S. Navy in World War II. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 9781557501493. OCLC 41977179. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2007. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]