USS Ranger

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

USS Ranger là một tên gọi lịch sử trong Hải quân Hoa Kỳ, được sử dụng để đặt tên cho một tàu của Hải quân Lục địa và chín tàu của Hải quân Mỹ:

  • Chiếc thứ nhất USS Ranger (1777) là một tàu xà-lúp 18 pháo chế tạo năm 1777 do John Paul Jones chỉ huy. Nó bị Anh Quốc chiếm giữ năm 1780 và đổi tên thành HMS Halifax.
  • Chiếc thứ hai USS Ranger (1814) là một thuyền hai buồm trang bị một pháo 18-pounder duy nhất, được mua năm 1814 và bán năm 1816.
  • Chiếc thứ ba USS Ranger là một tàu brigantine 14 khẩu pháo cũng được mua năm 1814 để hoạt động trên hồ Ontario, được bán năm 1821.
  • Chiếc thứ tư USS Ranger (1876) là một tàu bọc sắt trang bị bốn pháo, hoạt động năm 1876, chuyển thành một tàu huấn luyện hàng hải năm 1908, và tháo dỡ năm 1940.
  • Chiếc thứ năm USS Ranger (SP-237) là một tàu buồm thép hoạt động năm 1917 và ngừng hoạt động năm 1919, sau đó phục vụ cho Bộ Thương mại từ năm 1919 đến năm 1930 trước khi trả cho Hải quân và bị tháo dỡ vào năm 1931.
  • Chiếc thứ sáu USS Ranger (SP-369) là một tàu quét mìn được chế tạo năm 1882 và hoạt động năm 1918, được sử dụng trong việc phòng thủ duyên hải cho đến khi được trả cho chủ sở hữu vào năm 1919.
  • Chiếc thứ bảy USS Ranger (CC-5) là một tàu chiến-tuần dương lớp Lexington, được đổi tên thành USS Constitution (CC-5) vào ngày 10 tháng 12 năm 1917 và đặt lườn vào năm 1921, nhưng bị hủy bỏ vào năm 1923 và tháo dỡ trước khi hoàn tất.
  • Chiếc thứ tám USS Ranger (CC-4) là một tàu chiến-tuần dương lớp Lexington ban đầu đặt tên là Lexington, đổi tên thành Ranger vào ngày 10 tháng 12 năm 1917 và đặt lườn vào năm 1921, nhưng bị hủy bỏ vào năm 1923 và tháo dỡ trước khi hoàn tất.
  • Chiếc thứ chín USS Ranger (CV-4), con tàu đầu tiên của Hải quân Mỹ được thiết kế từ ban đầu như một tàu sân bay, đưa vào hoạt động năm 1934, bị bán để tháo dỡ năm 1947.
  • Chiếc thứ mười USS Ranger (CV-61) là một tàu sân bay, chiếc lớn nhất thế giới vào lúc hạ thủy năm 1957, ngừng hoạt động năm 1993.