USS Stribling (DD-96)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Stribling (DD-96)
Tàu khu trục USS Stribling tại kênh đào Panama khoảng năm 1920
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Stribling
Đặt tên theo: Cornelius Kinchiloe Stribling
Hãng đóng tàu: Xưởng tàu Fore River, Quincy, Massachusetts
Đặt lườn: 14 tháng 12, 1917
Hạ thủy: 29 tháng 5, 1918
Đỡ đầu bởi: Mary Calvert Stribling
Nhập biên chế: 16 tháng 8, 1918
Xuất biên chế: 26 tháng 6, 1922
Xếp lớp lại: DM-1, 17 tháng 7, 1920
Xóa đăng bạ: 1 tháng 12, 1936
Số phận: Đánh chìm như một mục tiêu, tháng 1, 1937
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
108 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Stribling (DD-96) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Chuẩn đô đốc Cornelius Stribling (1796-1880).

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Stribling được đặt lườn vào ngày 14 tháng 12, 1917 tại xưởng tàu Fore River của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationQuincy, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 29 tháng 5, 1918, được đỡ đầu bởi Cô Mary Calvert Stribling, và được đưa ra hoạt động tại xưởng hải quân Boston vào ngày 16 tháng 8, 1918 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Thomas E. Van Metre.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 31 tháng 8, 1918, Stribling khởi hành từ New York để hộ tống một đoàn tàu vận tải vượt Đại Tây Dương. Tuy nhiên, trục trặc máy móc buộc nó phải quay lại New York vào ngày hôm sau. Sau gần ba tuần ở lại cảng, nó lại lên đường vào ngày 18 tháng 9, lần này hộ tống một đoàn tàu vận tải hướng đến Gibraltar. Nó được tiếp nhiên liệu tại Ponta Delgada thuộc quần đảo Azores và đi đến Gibraltar vào đầu tháng 10. Từ đây, nó lên đường cùng một đoàn tàu vận tải đi Marseilles vào ngày 10 tháng 10. Trong tháng tiếp theo, nó thực hiện nhiều chuyến đi lại giữa Gibraltar và Marseilles cùng các đoàn tàu vận tải Đồng Minh.

Sau ngày Đình chiến, nó lên đường đi Venice, Ý để khảo sát các điều kiện sau đình chiến tại đây và tại nhiều cảng khác của Ý dọc theo bờ biển Adriatic và tại Dalmatia. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ, nó lên đường quay trở về nhà, về đến Hoa Kỳ vào tháng 7, 1919. Stribling đi vào Xưởng hải quân Portsmouth để đại tu và sửa chữa trước khi được đưa về biên chế giảm thiểu tại Philadelphia. Tại đây, nó được cải biến thành một tàu rải mìn, và đến ngày 17 tháng 7, 1920 được xếp lại lớp với ký hiệu lườn DM-1.

Vào tháng 9, 1921, nó rời Philadelphia đi sang vùng bờ Tây Hoa Kỳ, rồi tiếp tục đi đến Trân Châu Cảng, Hawaii. Sau một loạt các cuộc cơ động tại khu vực quần đảo này, Stribling được cho xuất biên chế vào ngày 26 tháng 6, 1922. Đến ngày 1 tháng 12, 1936, tên nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân, và trong tháng tiếp theo, nó được kéo đến San Pedro, California, nơi nó bị đánh đắm như một mục tiêu.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]