USS Swasey (DD-273)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Swasey
Tàu khu trục USS Swasey (DD-273)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Swasey (DD-273)
Đặt tên theo: Charles Swasey
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Squantum Victory Yard
Đặt lườn: 27 tháng 8, 1918
Hạ thủy: 7 tháng 5, 1919
Đỡ đầu bởi: cô Mary L. Swasey
Nhập biên chế: 8 tháng 8, 1919 10 tháng 6, 1922, 18 tháng 12, 1939 26 tháng 11, 1940
Xóa đăng bạ: 8 tháng 1, 1941
Số phận: Chuyển cho Anh Quốc, 26 tháng 11, 1940
Phục vụ (Anh Quốc)
Tên gọi: HMS Rockingham (G58)
Nhập biên chế: 26 tháng 11, 1940
Số phận: Đắm do trúng mìn đang khi kéo đi, 27 tháng 9, 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
130 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Swasey (DD-273) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Đại úy Hải quân Charles Swasey (1839-1862), người tử trận trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, Swasey được chuyển giao cho Anh Quốc như là chiếc HMS Rockingham (G58) vào năm 1940, và đã tiếp tục phục vụ trong chiến tranh cho đến khi bị đắm do trúng mìn năm 1944

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Swasey được đặt lườn vào ngày 27 tháng 8, 1918 tại xưởng tàu Squantum Victory Yard của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSquantum, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 7 tháng 5, được đỡ đầu bởi cô Mary L. Swasey; và được đưa ra hoạt động vào ngày 8 tháng 8, 1919.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

USS Swasey[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất việc trang bị, Swasey được phân về Hạm đội Thái Bình Dương, và nó khởi hành đi sang vùng bờ Tây, đi đến Trân Châu Cảng vào mùa Thu năm 1919. Nó phục vụ tại đây cho đến mùa Hè năm 1922, khi nó quay trở về San Diego, California. Nó được cho xuất biên chế tại San Diego vào ngày 10 tháng 6, 1922, và nằm trong thành phần Hạm đội Dự bị trong 17 năm tiếp theo.

Swasey được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 18 tháng 12, 1939, và sau khi được đại tu và chạy thử máy, nó được chuyển cho Anh Quốc vào ngày 26 tháng 11, 1940 theo Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ. Tên nó được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân Hoa Kỳ vào ngày 8 tháng 1, 1941.

HMS Rockingham[sửa | sửa mã nguồn]

Nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh như là chiếc HMS Rockingham (G58), nó được cải biến để tối ưu cho nhiệm vụ hộ tống vận tải thương mại bằng cách tháo dỡ ba khẩu pháo 4 in (100 mm)/50 caliber ban đầu cùng một dàn ống phóng ngư lôi ba nòng để giảm bớt trọng lượng bên trên, lấy chỗ để chứa thêm mìn sâu đồng thời trang bị một dàn súng cối chống tàu ngầm Hedgehog.[2] Rockingham được phân về Đội hộ tống B-1 trực thuộc Lực lượng Hộ tống giữa đại dương để hộ tống các đoàn tàu ON-96, SC-105, SC-119, ON-171, HX-230 và HX-236 trong mùa Đông năm 1942-1943.[3]

Rockingham bị đắm vào ngày 27 tháng 9, 1944 ở tọa độ 56°29′B 0°57′T / 56,483°B 0,95°T / 56.483; -0.950Tọa độ: 56°29′B 0°57′T / 56,483°B 0,95°T / 56.483; -0.950, đang khi được kéo đi sau trúng phải một quả mìn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71
  2. ^ Lenton 1968, tr. 92-94
  3. ^ Rohwer 1992, tr. 124, 135, 139, 170, 185, 194, 199, 202 & 209

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]