USS Toucey (DD-282)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
AlternateTextHere
Tàu khu trục USS Toucey (DD-282)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Toucey (DD-282)
Đặt tên theo: Isaac Toucey
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Squantum Victory Yard
Đặt lườn: 26 tháng 4, 1919
Hạ thủy: 5 tháng 9, 1919
Đỡ đầu bởi: cô Elizabeth Alden Robinson
Nhập biên chế: 9 tháng 12, 1919
Xuất biên chế: 1 tháng 5, 1930
Xóa đăng bạ: 22 tháng 10, 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 17 tháng 1, 1931
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Toucey (DD-282) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Bộ trưởng Hải quân Isaac Toucey (1792-1869). Toucey ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Toucey được đặt lườn vào ngày 26 tháng 4, 1919 tại xưởng tàu Squantum Victory Yard của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSquantum, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 5 tháng 9, 1919, được đỡ đầu bởi cô Elizabeth Alden Robinson; và được đưa ra hoạt động tại Boston, Massachusetts vào ngày 9 tháng 12, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Reuben B. Coffey.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Không lâu sau khi được đưa vào hoạt động, Toucey bắt đầu nhận nhiệm vụ cùng Hạm đội Đại Tây Dương như một đơn vị thuộc Đội khu trục 42 thuộc Hải đội 1, Chi hạm đội 7. Đặt căn cứ tại Newport, Rhode Island, trong bảy năm tiếp theo, nó hoạt động dọc theo vùng bờ Đông và tại khu vực Tây Ấn. Trong mùa Hè, nó tuần tra lên phía Bắc đến khu vực bờ biển New England, tiến hành các hoạt động khu trục; trong khi vào mùa Đông, nó đi về phía Nam cho các cuộc tập trung hạm đội hàng năm tại khu vực gần vùng kênh đào Panama cũng như thực hành tác xạ gần Puerto Rico. Một lúc nào đó trong khoảng từ 1 tháng 7, 1921 đến 1 tháng 1, 1922, nó được điều sang Đội khu trục 25 thuộc Hải đội 9, và bắt đầu hoạt động với biên chế nhân sự bị cắt giảm 50%. Tuy nhiên, nó được cho biên chế đầy đủ trở lại vào ngày 1 tháng 1, 1923, và cùng với đơn vị trên được điều sang Hạm đội Tuần tiễu vừa mới được thành lập.

Vào cuối năm 1926, Toucey được tạm thời điều động vào lực lượng Hải quân Hoa Kỳ hoạt động tại Châu Âu. Đến ngày 1 tháng 1, 1927, căn cứ hoạt động của nó được chuyển từ Newport đến Norfolk, Virginia, và nó tiếp tục hoạt động cùng Lực lượng Tuần tiễu. Vào mùa Xuân năm 1930, nó đi đến Philadelphia, Pennsylvania để chuẩn bị ngừng hoạt động. Toucey được cho xuất biên chế vào ngày 1 tháng 5, 1930 tại Philadelphia. Tên nó được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 22 tháng 10, và lườn tàu bị bán để tháo dỡ vào ngày 17 tháng 1, 1931. Việc tháo dỡ được thực hiện vào khoảng năm 1934.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]