Usugumo (tàu khu trục Nhật) (1927)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Usugumo II.jpg
Tàu khu trục Usugumo vào tháng 8 năm 1928
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Hãng đóng tàu: Xưởng đóng tàu Ishikawajima
Số hiệu xưởng đóng tàu: Tàu khu trục số 41
Đặt lườn: 21 tháng 10 năm 1926
Hạ thủy: 26 tháng 12 năm 1927
Hoạt động: 26 tháng 7 năm 1928
Xóa đăng bạ: 10 tháng 9 năm 1944
Số phận: Bị tàu ngầm USS Skate đánh chìm 5 tháng 7 năm 1944 tại biển Okhotsk 47°43′B 147°55′Đ / 47,717°B 147,917°Đ / 47.717; 147.917
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Fubuki[1]
Trọng tải choán nước: 1.750 tấn (tiêu chuẩn)
2.050 tấn (tái tạo)
Độ dài: 115,3 m (378 ft) (mực nước)
118,4 m (388 ft 6 in) (chung)
Sườn ngang: 10,4 m (34 ft 1 in)
Mớn nước: 3,2 m (10 ft 6 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hộp số Kampon
4 × nồi hơi
2 × trục
công suất 50.000 mã lực (37,3 MW)
Tốc độ: 70 km/h (38 knot)
Tầm xa: 9.200 km ở tốc độ 26 km/h (5,000 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
219
Vũ trang: 6 × hải pháo 127 mm (5 inch)/50 caliber Kiểu 3 (3×2)
2 × súng máy 13 mm Kiểu 93 (2×1)
9 × ống phóng ngư lôi 610 mm (24 in) (3×3)
18 × ngư lôi Kiểu 91
18 × mìn sâu

Usugumo (tiếng Nhật: 薄雲) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, thuộc lớp Fubuki bao gồm hai mươi bốn chiếc, được chế tạo sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc. Khi được đưa vào hoạt động, những con tàu này là những tàu khu trục mạnh mẽ nhất thế giới.[2] Chúng phục vụ như những tàu khu trục hàng đầu trong những năm 1930, và tiếp tục là những vũ khí lợi hại trong cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương. Usugumo là một cựu binh tham gia nhiều hoạt động trong những năm đầu tiên của chiến tranh, và đã bị tàu ngầm USS Skate đánh chìm ngày 5 tháng 7 năm 1944 tại biển Okhotsk trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục Fubuki tiên tiến được chấp thuận vào năm tài chính 1923 như một phần của chương trình có tham vọng cung cấp cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản một ưu thế về chất lượng so với những tàu chiến hiện đại nhất của thế giới.[3] Khả năng thể hiện của lớp Fubuki là một bước nhảy vọt so với các thiết kế tàu khu trục trước đó, nên chúng được gọi là các "tàu khu trục đặc biệt" (tiếng Nhật: 特型 - Tokugata). Kích thước lớn, động cơ mạnh mẽ, tốc độ cao, bán kính hoạt động lớn và vũ khí trang bị mạnh chưa từng có khiến cho các tàu khu trục này có được hỏa lực tương đương nhiều tàu tuần dương hạng nhẹ của hải quân các nước khác.[4] Usugumo được chế tạo tại xưởng đóng tàu IshikawajimaTokyo, được đặt lườn vào ngày 21 tháng 10 năm 1926. Nó được hạ thủy vào ngày 26 tháng 12 năm 1927 và đưa ra hoạt động vào ngày 26 tháng 7 năm 1928.[5] Nguyên được dự định mang số hiệu đơn giản là "Tàu khu trục số 41", nó được hoàn tất dưới tên gọi Usugumo.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Khi hoàn tất, Usugumo được phân về Hải đội Khu trục 12 thuộc Hạm đội 2 Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Trong cuộc Chiến tranh Trung-Nhật, Usugumo được phân công tuần tra dọc theo bờ biển miền Nam Trung Quốc. Vào ngày 15 tháng 8 năm 1940, nó bị hư hại nặng bởi một quả thủy lôi, và được cho kéo về xưởng hải quân Maizuru để sửa chữa.

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Usugumo vẫn còn đang được sửa chữa, nên đã không sẵn sàng chiến đấu cho đến cuối tháng 7 năm 1942, khi nó được điều về Hạm đội 5 Hải quân Đế quốc Nhật Bản, và được gửi đến Quân khu Bảo vệ Ōminato. Từ tháng 8 đến giữa tháng 10, Usugumo được phân công tuần tra dọc theo bờ biển Hokkaidōquần đảo Kurile và hộ tống các đoàn tàu vận tải đi lại giữa ParamushiroAttu cùng Kiska thuộc quần đảo Aleut cho đến cuối tháng 1 năm 1943. Vào tháng 2 năm 1943, nó quay trở về xưởng hải quân Kure để sửa chữa.[6]

Trong trận chiến quần đảo Komandorski ngày 26 tháng 3 năm 1943, Usugumo làm nhiệm vụ hộ tống chiếc tàu vận tải Sanko Maru, và do đó đã không trực tiếp tham gia chiến sự.[7] Usugumo tiếp nối các chuyến đi vận chuyển giữa Paramushiro và Attu trong tháng 4, và từ tháng 7 đến tháng 8 đã trợ giúp vào việc triệt thoái lực lượng Nhật Bản còn sống sót khỏi Kiska.[8] Đến cuối tháng 11, Usugumo quay trở về Kure để tái trang bị.

Sau khi trải qua tháng 1 năm 1944 tiến hành huấn luyện trong vùng biển Nội địa Nhật Bản, Usugumo quay trở lại Ōminato vào đầu tháng 2 tiếp tục các nhiệm vụ tuần tra và hộ tống ở vùng biển Bắc. Vào cuối tháng 3, nó hộ tống một đoàn tàu vận tải đi đến đảo Uruppu

Vào ngày 5 tháng 7 năm 1944,[9] sau khi rời Otaru, Hokkaidō cùng một đoàn tàu vận tải khác hướng đến Uruppu, Usugumo trúng phải ngư lôi phóng từ tàu ngầm Mỹ USS Skate trong biển Okhotsk, ở cách 610 km (330 hải lý) về phía Tây Nam Paramushiro, ở tọa độ 47°43′B 147°55′Đ / 47,717°B 147,917°Đ / 47.717; 147.917Tọa độ: 47°43′B 147°55′Đ / 47,717°B 147,917°Đ / 47.717; 147.917. Hai quả ngư lôi đã đánh trúng giữa tàu; khiến nó chìm trong vòng sáu phút, và không có thành viên thủy thủ đoàn nào sống sót.[10]

Vào ngày 10 tháng 9 năm 1944, Usugumo được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân.[5]

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Các đặc tính lấy từ: Fitzsimons, Bernard, ed. Illustrated Encyclopedia of 20th Century Weapons and Warfare (London: Phoebus, 1978), Volume 10, trang 1040-1041, "Fubuki".
  2. ^ Globalsecurity.org. “IJN Fubuki class destroyers”. 
  3. ^ Fitzsimons, Illustrated Encyclopedia of 20th Century Weapons and Warfare, trang 1040
  4. ^ Peattie & Evans, Kaigun, trang 221-222.
  5. ^ a ă Nishidah, Hiroshi (2002). “Fubuki class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  6. ^ Nevitt, Allyn D. (1997). “IJN Usugumo: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 
  7. ^ Lorelli. The Battle of the Komandorski Islands, March 1943
  8. ^ Morison. Aleutians, Gilberts and Marshalls, June 1942-April 1944.
  9. ^ Nguồn http://www.history.navy.mil/danfs/s13/skate-i.htm cho rằng đó là vào ngày "7 tháng 7 năm 1944"
  10. ^ Brown. Warship Losses of World War Two

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • D'Albas, Andrieu (1965). Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II. Devin-Adair Pub. ISBN 0-8159-5302-X. 
  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895–1945. Atheneum. ISBN 0-689-11402-8. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. US Naval Institute Press. ISBN 0-87021-893-X. 
  • Lorelli, John A. (1984). The Battle of the Komandorski Islands, March 1943. Naval Institute Press. ISBN 0-87021-093-9. 
  • {{chú thích sách | last = Morison | first = Samuel Eliot | authorlink = Samuel Eliot Morison | year = 1961 | title = Aleutians, Gilberts and Marshalls, June 1942-April 1944, vol. 7 of History of United States Naval Operations in World War II | publisher = Little, Brown and Company | location = Boston | id = ASIN B0007FBB8I
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1-85409-521-8. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]