Hồ Uvs

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Uvs Nuur)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tọa độ: 50°18′B, 92°42′Đ

Uvs Nuur
Địa lý
Tọa độ 50°18′00″B, 92°42′00″Đ
Kiểu hồ nước mặn
Nguồn cấp nước chính Tesiin gol và các sông khác
Nguồn thoát đi chính không
Quốc gia lưu vực Mông Cổ, Nga
Độ dài tối đa 84 km
Độ rộng tối đa 79 km
Diện tích bề mặt 3.350 km²
Độ sâu trung bình 11,9 m
Độ sâu tối đa 20 m
Dung tích 39,6 km³
Cao độ bề mặt 759 m
Khu dân cư Ulaangom
Lưu vực Uvs Nuur
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Ảnh chụp Uvs Nuur từ vệ tinh
Quốc gia Flag of Mongolia.svg Mông CổFlag of Russia.svg Nga
Kiểu Thiên nhiên
Hạng mục ix, x
Tham khảo 769
Vùng UNESCO Châu Á
Lịch sử công nhận
Công nhận 2003 (kì thứ 27)

Uvs Nuur (tiếng Mông Cổ: Увс Нуур; tiếng Nga: Убсу-Нур, Ubsu-Nur) là hồ lớn nhất tại Mông Cổ, nằm trên độ cao 753 m so với mực nước biển, bao phủ diện tích 3.350 km²; phần phía đông bắc của hồ nằm trong lãnh thổ của Cộng hòa Tuva thuộc Liên bang Nga. Khu dân cư lớn nhất vên bờ hồ là Ulaangom. Hồ nước mặn và nông này là phần còn sót lại của một biển nước mặn lớn đã từng che phủ một diện tích lớn hơn vài nghìn năm về trước.

Hồ Uvs Nuur là trung tâm của lòng chảo Uvs Nuur, với diện tích của lòng chảo này là khoảng 700.000 km² và là một trong những cảnh quan thảo nguyên tự nhiên được bảo tồn khá tốt của đại lục Á-Âu. Ngoài hồ Uvs Nuur, vùng lòng chảo này còn có một số hồ nhỏ khác, đáng chú ý là hồ Ureg Nuur, nằm ở cao độ 1.450 m trên mực nước biển.Do các hồ này nằm về phía bắc của các biển nội địa khác của khu vực Trung Á, nên chúng là các môi trường quan trọng cho các loài thủy cầm di cư.

Do lòng chảo này nằm trong ranh giới địa khí hậu giữa Siberi và Trung Á, nên nhiệt độ của nó dao động trong khoảng từ -58 °C về mùa đông tới 47 °C về mùa hè. Mặc dù khí hậu khắc nghiệt như vậy, nhưng trong khu vực của hồ này lại có một tiểu khí hậu thích hợp cho nhiều loài động và thực vật. Đây là quê hương của khoảng 173 loài chim và 41 loài động vật có vú, bao gồm các loài có mức độ đe dọa tuyệt chủng cao toàn cầu như báo tuyết, cừu aga hay dê rừng châu Á.

Năm 2003, UNESCO đã liệt kê lòng chảo Uvs Nuur là di sản thế giới thiên nhiên. Di sản xuyên quốc gia này là một trong những khu vực lớn nhất được liệt kê trong Danh sách di sản thế giới cho tới năm 2006.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]


Nga Di sản thế giới tại Liên bang Nga Nga
Di sản văn hóa
Mũi đất Kursh (với Litva) | Tu viện Pherapontov | Nhà thờ Kolomenskoye | Kremli, Kazan | Kizhi | Thành quách, phố cổ và pháo đài Derbent, Dagestan | Các tượng đài tại Novgorod (bao gồm cả Thánh đường Sophia) | Kremli, MoskvaQuảng trường Đỏ | Quần thể Tu viện Novodevichy | Trung tâm lịch sử của Sankt-Peterburg (bao gồm Pavlovsk, Petergophlàng Tsarskoye) | Cảnh quan văn hóa lịch sử của đảo Solovetsky | Vòng cung trắc đạc Struve (chung với 9 quốc gia khác) | Troitse-Sergiyeva Lavra | Các công trình kỉ niệm Vladimir (bao gồm nhà thờ Uspenskii, nhà thờ Pokrova trên Nerli, Cổng Vàng) và Suzdal | Trung tâm lịch sử của Yaroslavl
Di sản tự nhiên
Miền trung dãy Sikhote-Alin | Các ngọn núi vàng của dãy Altai | Hồ Baikal | Uvs Nuur (với Mông Cổ) | Rừng nguyên sinh Komi | Các núi lửa thuộc bán đảo Kamchatka | Tây Kavkaz | Cao nguyên Putorana | Khu vực thiên nhiên đảo Wrangel | Công viên cột thiên nhiên Lena