Uy Đức Vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Uy Đức Vương
Hangul 위덕왕
Hanja (Hán tự) 威德王
Hán-Việt Uy Đức Vương
Romaja quốc ngữ Wideok-wang
McCune-Reischauer Widŏk-wang
Uy Đức Vương
Hangul
Hanja (Hán tự)
Hán-Việt Xương
Romaja quốc ngữ Chang
McCune-Reischauer Ch'ang

Uy Đức Vương (525–598, trị vì 554–598) là quốc vương thứ 27 của Tân La, một trong Tam Quốc Triều Tiên. Ông là con trai cả của Thánh Vương, và lên ngôi sau cái chết của phụ thân.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian trị vì của Thánh Vương, Bách Tế đã có một liên minh với làng giếng Tân La và cả với liên minh Già Da nhằm chống lại vương quốc Cao Câu Ly hùng mạnh ở phương bắc. Năm 551, Bách Tế thành công trong việc tái chiếm vùng thung lũng sông Hán (quanh Seoul ngày nay) từ tay Cao Câu Ly, nơi từng đặt kinh đô của Bách Tế từ khi nó thành lập cho đến năm 538. Tuy nhiên, Tân La đã phản bội lại đồng minh và với một hiệp ước bí mật với Cao Câu Ly, đã chiếm đoạt lại lãnh thổ này.

Với vai trò là thái tử, Uy Đức đã tổ chức các cuộc tấn công trả đũa Tân La, bất chấp phản đối từ tầng lớp quý tộc. Ông tham gia trận thành Quản Sơn (Gwansan), quốc vương cùng gần 30.000 lính Bách Tế đã thiệt mạng trong trận chiến. Chiến dịch bất hạnh này đã dẫn đến việc giới quý tộc Bách Tế lấy đi một số quyền lực từ vương quyền.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Bách Tế dưới thời Uy Đức Vương có quan hệ thù địch với cả Tân La và Cao Câu Ly, đã diễn ra nhiều trận đánh khác nhau cũng như xâm nhập biên giới nhằm chống lại các vương quốc kình địch.

Để tránh bị cô lập, và củng cố vị thế vương tộc để chống lại sức mạnh của tầng lớp quý tộc, ông duy trì quan hệ thân thiện với các triều đại Trung Hoa như nhà Trần Bắc TềTùy. Mặc dù các mối quan hệ này phần lớn đã bị phá vỡ sau các biến động lớn vào thập niên 550, ông cứ sứ thần sang triều đình nhà Trần vào các năm 567, 577, 584, và 586 (nước này thất thủ trước Túy sớm sau đó). Năm 567, ông cử đoàn sứ thần Bách Tế Bắc Ngụy; điều này có thể trở nên thuận tiện sau khi mối quan hệ với Cao Câu Ly được cải thiện. Năm 570, Bắc Ngụy phong cho ông tước hiệu "Thượng khai phủ, Nghi Đồn tam ti, Đái Phương quận công", ông cũng cử một đoàn sứ thần triều cống khác vào năm 572. Sau khi Bắc Ngụy bị Bắc Chu chinh phục năm 577, Bách Tế cũng đã cử một đoàn sứ thần chúc mừng với các nhạc công đến triều đình Bắc Chu. Năm sau, đoàn sứ thần thứ hai và cuối cùng dã được cử đến Bắc Chu, trước khi nước này bị Tùy diệt năm 581.

Uy Đức ngay lập tức cũng đã cử một đoàn sứ thần chúc mừng đến triều đình nhà Tùy năm 581, và một đoàn khác năm 582. Năm 589, Tùy chinh phục Trần và thống nhất Trung Quốc. Trong cùng năm, một tàu chiến của Tùy đã mắccanj tại đảo Jeju (Tế Châu), là đất của Đam La, phiên thuộc của Tân La. Uy Đức cung cấp cho thủy thủ đoàn một đội hộ tống chính thức (mang triều cống và chúc mừng) đến triều đình Trung Hoa. Năm 598 ông đã cử sứ thần trợ giúp Tùy trong cuộc viễn chinh của nước này chống Cao Câu Ly cùng năm. Tuy nhiên, cuọc viễn chinh đã hoàn thành. Anh Dương Vương của Cao Câu Ly đã phát động một cuộc tấn công trừng phạt biên giới phía bắc Bách Tế khi biết được sự việc này.

Tiếp tục di sản từ phụ thân, Uy Đức Vương đã cử các phái đoàn Phật giáo khác nhau đến Yamato Nhật Bản.

Di tích[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1995, một hộp di vật bằng đá được tìm thấy tại ngôi chùa có từ thời Bách Tế ở huyện Buyeo, Chungcheong Nam. Các chữ khắc trên bề mặt của hộp được thực hiện từ năm 567 theo lệnh của Uy Đức Vương. Năm 1996, chính phủ Hàn Quốc đã công nhận chiếc hộp là Quốc bảo Hàn Quốc số 288. Hộp hiện nằm tại Bảo tàng quốc gia Buyeo.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]