Đá Vành Khăn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Vành Khăn)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thực thể địa lí tranh chấp
Đá Vành Khăn
Mischief Reef, Spratly Islands.png
Ảnh vệ tinh chụp đá Vành Khăn (NASA)
Vị trí của đá Vành Khăn
Vị trí của đá Vành Khăn
đá
Vành Khăn
Địa lý
Vị trí Biển Đông
Tọa độ 9°55′B 115°32′Đ / 9,917°B 115,533°Đ / 9.917; 115.533 (đá Vành Khăn)Tọa độ: 9°55′B 115°32′Đ / 9,917°B 115,533°Đ / 9.917; 115.533 (đá Vành Khăn)
Quốc gia quản lý  Trung Quốc
Tranh chấp giữa
Quốc gia  Đài Loan

Quốc gia

 Philippines

Quốc gia

 Trung Quốc

Quốc gia

 Việt Nam

Đá Vành Khăn là một rạn san hô vòng thuộc cụm Bình Nguyên của quần đảo Trường Sa. Đá này nằm cách đảo Sinh Tồn Đông 57 hải lí (105,6 km) về phía đông và cách đảo Vĩnh Viễn 51 hải lí (94,5 km) về phía nam.[1]

Đá Vành Khăn là đối tượng tranh chấp giữa Việt Nam, Đài Loan, PhilippinesTrung Quốc. Trung Quốc kiểm soát đá này từ tháng 2 năm 1995, gây ra một cuộc khủng hoảng chính trị với Philippines.[2][Ghi chú 1]

Tên gọi Mischief là do nhà làm bản đồ Henry Spratly đặt vào năm 1791 khi ông đi qua vùng quần đảo Trường Sa.
  • Đặc điểm: hình dạng hơi tròn với đường kính khoảng 4 hải lí (7,4 km)[3]. Đa phần đá Vành Khăn chìm dưới nước. Vụng biển (phá) của Vành Khăn sâu từ 18,3 đến 29,2 m.[4] Phần phía tây nam của vụng thì an toàn cho việc neo đậu trong khi phần đông bắc lại đầy đá san hô lởm chởm với độ sâu chỉ 1,8 m.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 1995, Trung Quốc điều bảy tàu[5] đến đá Vành Khăn, bắt giữ và trục xuất các ngư dân Philippines tại đây.[6] Sau đó nước này cho xây dựng những cấu kiện hình đa giác dựng trên những cột thép,[2] đĩa vệ tinh và cắm cờ Trung Quốc.[7]

Khi Philippines lên tiếng phản đối, Trung Quốc đáp lại rằng việc chiếm đóng là "do cấp dưới ra lệnh và thực thi" mà "không thông báo hay xin phép chính phủ Trung Quốc".[5] Philippines kêu gọi giải quyết thông qua thượng lượng và hợp tác khai thác, dẫn đến một cuộc họp cấp thứ trưởng ngoại giao giữa hai nước tại Bắc Kinh vào ngày 19 tháng 3 năm 1995 (thất bại). Ngay trong thời gian diễn ra cuộc họp, Philippines cho quân phá huỷ các phao đánh dấu do Trung Quốc thả tại bãi Hải Sâm, bãi Sa Binbãi Trăng Khuyết. Ngày 25 tháng 3, Philippines bắt bốn tàu cá của Trung Quốc tại đá Suối Ngọc rồi dẫn giải về đảo Palawan.[5]

Tháng 11 năm 1998, Trung Quốc gửi bảy con tàu chở theo rất đông thợ xây đến đá Vành Khăn để mở rộng các cấu kiện hình bát giác "dành cho ngư dân" thành những toà nhà bê tông. Hậu quả là một đợt căng thẳng mới kể cả bằng lời nói và hành động thực tế đã bùng phát giữa nước này và Philippines. Philippines liên tục từ chối lời đề nghị cùng sử dụng các ngôi nhà của Trung Quốc trên đá Vành Khăn, cho máy bay do thám đá này và cho hải quân bắn chìm một số tàu cá của Trung Quốc mà Philippines cho rằng đã xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của họ.[8]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguồn tin của Philippines cho rằng một cơn bão vào năm 1994 đã khiến Hải quân Philippines phải rời đá Vành Khăn, và sau khi trở lại thì họ phát hiện Trung Quốc đã chiếm đá. Xem Rodis, Rodel (28 tháng 6 năm 2012). “Pushing the Shoal to the brink” (bằng tiếng Anh). INQUIRER.net. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2012. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Carpenter, William M.; Wiencek, David G. (2000), Asian Security Handbook 2000 [Sách tóm tắt về an ninh châu Á] (ấn bản 2), M.E. Sharpe, ISBN 978-0765607140 
  • Dzurek, Daniel J. (1995), “China Occupies Mischief Reef In Latest Spratly Gambit”, Boundary & Security Bulletin (University of Durham, International Boundaries Research Unit) 3 
  • Hancox, David; Prescott, Victor (1995), A Geographical Description of the Spratly Islands and an Account of Hydrographic Surveys amongst Those Islands [Một mô tả địa lí về quần đảo Trường Sa và bảng kê các cuộc khảo sát thuỷ văn quần đảo này], Maritime Briefings 1, International Boundaries Research Unit, University of Durham, ISBN 978-1897643181 
  • Sailing Directions 161 (Enroute) - South China Sea and the Gulf of Thailand (ấn bản 13), Bethesda, Maryland: National Geospatial-Intelligence Agency, 2011 
  • Roy, Denny (1998), China's Foreign Relations [Các quan hệ ngoại giao của Trung Quốc], Rowman & Littlefield Publishers, ISBN 978-0847690138 
  • Severino, Rodolfo C. (2006), Southeast Asia in Search of an ASEAN Community: Insights from the Former ASEAN Secretary-General, Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, ISBN 978-9812303899