Võ Viết Thanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Võ Viết Thanh (sinh 1943) là một chính khách Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (Bộ Công an hiện nay) nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thân thế và khởi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông còn có tên khác là Bảy Thanh, sinh năm 1943, tại xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre[1]. Song thân ông là ông Võ Văn Nhuận và bà Phạm Thị Giang[2], đều là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ những năm 1930, từng ở hãng Ba Son, hoạt động trong Công hội Đỏ cùng với Tôn Đức Thắng, Dương Quang Đông, sau năm 1945 hoạt động cho Mặt trận Việt Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ông tham gia hoạt động cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam từ năm 1960. Thời gian đầu, ông hoạt động du kích tại địa phương, từng bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giam từ tháng 12 năm 1960 đến tháng 8 năm 1961. Sau khi được tự do, ông tiếp tục hoạt động cho Mặt trận Giải phóng, phụ trách một xưởng quân giới của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tại địa phương, có nhiều thành tích trong chiến đấu và trong việc sản xuất, chế tạo vũ khí. Ông được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 7 tháng 9 năm 1970.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, ông chuyển sang công tác đoàn thể, chính quyền, đảm nhiệm chức vụ Phó Bí thư Thành đoàn kiêm Chỉ huy trưởng Lực lượng Thanh niên xung phong Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoạt động trong ngành Công an[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đó ông được bổ nhiệm Phó Giám đốc rồi Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh (1984-1987) với cấp hàm Đại tá. Năm 1986 ông được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng VI khi mới 43 tuổi.

Năm 1987, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ (Bộ Công an hiện nay) phụ trách an ninh, năm 1988 ông được phong cấp hàm Trung tướng.

Công tác chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1991, ông trở lại công tác chính quyền TP Hồ Chí Minh; lần lượt làm Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phụ trách quản lý đô thị, Quyền Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh (07/1996-08/1997), Phó Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh (08/1997-17/05/2001).

Danh hiệu Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]
  2. ^ Về sau đều được Nhà nước Việt Nam công nhận Liệt sĩ. Bà Giang còn được truy tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]