Vũ Đức Đam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vũ Đức Đam
Chức vụ
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ
Nhiệm kỳ 3 tháng 8, 2011 – 14 tháng 11,2013
&0000000000000002.0000002 năm, &0000000000000103.000000103 ngày
Tiền nhiệm Nguyễn Xuân Phúc
Kế nhiệm Nguyễn Văn Nên
Nhiệm kỳ 17 tháng 3, 2010 – 15 tháng 8, 2011
&0000000000000001.0000001 năm, &0000000000000151.000000151 ngày
Tiền nhiệm Nguyễn Duy Hưng
Kế nhiệm Phạm Minh Chính
Chủ tich Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh
Nhiệm kỳ 5 tháng 5, 2008 – 6 tháng 8, 2010
&0000000000000002.0000002 năm, &0000000000000093.00000093 ngày
Tiền nhiệm Vũ Nguyên Nhiệm
Kế nhiệm Nguyễn Văn Đọc
Phó Thủ tướng Chính phủ
Nhiệm kỳ 13 tháng 11,2013 – nay
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000312.000000312 ngày
Tiền nhiệm Nguyễn Thiện Nhân
Phó Chủ tịch Ủy ban quốc gia đổi mới giáo dục
Nhiệm kỳ 25 tháng 02,2014 – 
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 3 tháng 2, 1963 (51 tuổi)
Thanh Miện, Hải Dương

Vũ Đức Đam (sinh 1963) là một chính khách Việt Nam. Ông hiện đang là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Phó Thủ tướng Chính phủ[1]. Ông có bằng Tiến sĩ Kinh tế và là Phó Thủ tướng trẻ nhất tại thời điểm bổ nhiệm trong Chính phủ đương nhiệm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.Ông sẽ thay Nguyễn Thiện Nhân phụ trách khối văn hóa xã hội, khoa học, giáo dục và đào tạo. Ông cũng là Chủ tịch Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm thay cho ông Nguyễn Xuân Phúc[2].

Thân thế sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 3 tháng 2 năm 1963 tại xã Ngũ Hùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương[1][3].

Sau khi tốt nghiệp Trung học, tháng 7 năm 1982, ông được cử làm lưu học sinh Đại học Tự do Brussel (Université Libre de Bruxelles), Vương quốc Bỉ. Sau khi trở về nước, tháng 10 năm 1988, ông được phân công công tác tại Công ty Dịch vụ kỹ thuật và Xuất nhập khẩu, Tổng cục Bưu điện. Đến tháng 10 năm 1990, ông trở thành Chuyên viên Ban Phát triển kỹ thuật và Quan hệ đối ngoại, Tổng công ty Bưu chínhViễn thông Việt Nam, tháng 3 năm 1992, là Chuyên viên Văn phòng Tổng cục Bưu điện[4]

Đường công danh rộng mở, bước thăng tiến nhanh chóng. Tháng 4 năm 1993, ông được bổ nhiệm làm Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học - Công nghệ và Hợp tác quốc tế, Tổng cục Bưu điện, khi vừa mới 30 tuổi.

Trong những năm sau đó, ông được phân công công tác tại Văn phòng Chính phủ. Tháng 10 năm 1994, là Phó Vụ trưởng Vụ Quan hệ quốc tế. Từ tháng 11 năm 1995 đến tháng 8 năm 1996, là Quyền Vụ trưởng rồi Vụ trưởng Vụ ASEAN.

Tháng 8 năm 1996, ông được phân công làm Vụ trưởng, Thư ký Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Sau khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt rút lui khỏi chính trường, từ tháng 8 năm 1998, ông là Trợ lý Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Võ Văn Kiệt.

Những năm sau đó, ông được chuyển sang công tác chính quyền. Từ tháng 3 năm 2003, ông được phân công tham gia Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh, trở thành Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, được bầu làm Phó Chủ tịch rồi Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bắc Ninh[1].

Từ tháng 8 năm 2005 đến tháng 11 năm 2007, ông được điều chuyển công tác, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Bưu chính – Viễn thông. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Sau đó, ông được điều chuyển sang công tác tại Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh, được bầu làm Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy.

Tại kỳ họp thứ 12 (kỳ họp bất thường) sáng 5 tháng 5 năm 2008, Hội đồng Nhân dân tỉnh Quảng Ninh khóa XI đã bầu ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, thay cho người tiền nhiệm Vũ Nguyên Nhiệm nghỉ hưu [5][6]

Ngày 17 tháng 3 năm 2010, tại Hội nghị lần thứ 26 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, Vũ Đức Đam được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy với số phiếu tuyệt đối [7], thay thế ông Nguyễn Duy Hưng [8].

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIII, được Quốc hội phê chuẩn làm Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ[1].

Tại kỳ họp thứ sáu Quốc hội khóa XIII, được Quốc hội phê chuẩn giữ chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ với tỉ lệ tán thành cao (84,54% tổng số đại biểu).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]