Võ Tắc Thiên
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
Võ Tắc Thiên (Trung văn giản thể: 武则天; phồn thể: 武則天; bính âm: Wǔ Zétiān), Phát âm tiếng Trung: [ù tsɯ̯ʌ̌ tʰi̯ɛ́n]) (sinh ngày 17 tháng 2, 625 – mất ngày 16 tháng 12 năm 705), thường được biết với tên gọi Võ Mị Nương, tên thật là Võ Chiếu (武曌, Wu Zhao).
Bà là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, và để lại nhiều tranh luận về công tội giữa các nhà sử học. Bà đã trải qua các vị trí tài nhân, chiêu nghi, hoàng phi, hoàng hậu, hoàng thái hậu, hoàng đế, thái thượng hoàng, nhưng cuối cùng trước khi qua đời đã quay lại với vị trí hoàng hậu của nhà Đường. Việc bà nổi lên nắm quyền cai trị bị các nhà sử học Khổng giáo chỉ trích mạnh mẽ nhưng các nhà sử học từ sau thập kỷ 1950 đã có cái nhìn khác về bà.
Khi lên ngôi Hoàng đế bà đổi tên thành Võ Chiếu (武曌), chữ "Chiếu" trong tên bà vốn là chữ "chiếu" (照) nhưng để may mắn bà đã tự tạo chữ mới (日月当空 nhật nguyệt đương không) và là một trong những chữ trong Võ Hậu Tân tự. Bà là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc đã lập ra triều đại của riêng mình, nhà Võ Chu (周), và cai trị dưới danh hiệu Thánh Thần Hoàng Đế (聖神皇帝) từ 690 đến 705.
Mục lục |
Xuất thân [sửa]
Gia đình bà có nguồn gốc ở huyện Văn Thuỷ (文水), thuộc quận Tinh Châu (幷州; hiện nay là thành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây). Cha bà là Võ Sĩ Hoạch (武士彠) (577-635), một thành viên thuộc một gia đình quý tộc danh tiếng ở Sơn Tây. Mẹ bà họ Dương (楊氏) (579-670), xuất thân từ gia đình quý tộc hoàng gia nhà Tuỳ. Võ Tắc Thiên không phải sinh ở Văn Thuỷ, bởi cha bà đảm nhận nhiều chức trách ở nhiều nơi trong suốt cuộc đời. Bà được cho là sinh ở Lợi Châu (利州) hiện là thành phố Quảng Nguyên (廣元市), phía bắc tỉnh Tứ Xuyên, cách Văn Thủy khoảng 800 km về phía tây nam, nhưng một số nơi khác cũng được cho là nơi sinh của bà gồm cả thủ đô Trường An.
Nhập cung [sửa]
Bà được đưa vào hậu cung Đường Thái Tông nhà Đường vào khoảng năm 635 và là một Tài Nhân (才人), tức là một trong chín người thiếp cấp thứ năm. Thấy tên Võ Chiếu không đẹp, Đường Thái Tông đặt tên cho bà là Mị (媚), có nghĩa là "duyên dáng, xinh đẹp", và vì vậy còn được người Trung Quốc gọi là Võ Mị Nương (武媚娘). Có thể thời gian này bà đã gặp thái tử Lý Trị và có tình cảm lén lút với vị vua tương lai này.
Năm 649, Đường Thái Tông băng hà, theo luật lệ, Võ Mị Nương phải rời cung để vào chùa Cảm Nghiệp xuống tóc. Thái tử Lý Trị lên ngôi, tức là Đường Cao Tông.
Quay lại hậu cung [sửa]
Năm 651, Đường Cao Tông đưa bà trở lại hoàng cung sau khi đi cúng tế cho cha tại chùa Cảm Nghiệp. Hoàng hậu họ Vương của Cao Tông đã chủ động hỗ trợ đưa bà về vì khi đó Cao Tông đang sủng ái Thục phi họ Tiêu, và muốn dùng Võ Tắc Thiên trong việc tranh giành quyền lực. Có thuyết lại cho rằng bà chưa từng rời hoàng cung. Tiêu phi bị thất sủng, muốn trả thù Vương Hoàng Hậu và Võ Mị Nương. Tháng 5 năm 651, Võ Mị Nương được phong Chiêu Nghi dưới sự ganh ghét của Tiêu thục phi, việc phong chiêu nghi được các đại thần thanh liêm đồng ý hết mình.
Năm 654, Vũ Mị Nương sinh một con gái, nhưng đứa trẻ bị chết sau khi sinh 1 tháng. Trước khi đứa trẻ chết, Vương hoàng hậu có đến thăm nên bị nghi ngờ là nhân cơ hội hạ độc thủ tiểu công chúa (An Định, tên thật Lý Lệnh Ngọc).
Năm 655, Vương hoàng hậu và Tiêu thục phi mời đồng cốt yếm bùa mong gian hại Vũ Chiêu nghi nhưng bại lộ. Đường Cao Tông sau khi phát hiện đã phế bỏ hai người họ.
Hoàng hậu - Thiên hậu [sửa]
Tháng 10 năm 655, Đường Cao Tông phong Võ chiêu nghi làm hoàng hậu.
Năm 660, Đường Cao Tông bị trúng gió đột quỵ, Võ hậu liền tham gia chính sự từ phía sau rèm cùng vua, nên gọi là Nhị thánh lâm triều. Cao Tông nhất nhất đều nghe theo lời Võ hậu, tuy nhiên nhận thấy sự nguy hiểm của bà, nên đã ngầm ra lệnh cho Thượng Quan Nghi tìm cách phế truất. Việc bại lộ, Thượng Quan Nghi bị Võ hậu xử tội chết, Cao Tông cũng mất hết quyền lực, hoàn toàn phụ thuộc vào Võ hậu. Tuy nhiên Võ hậu về sau lại rất trọng dụng Thượng Quan Uyển Nhi, là cháu nội của Thượng Quan Nghi.
Thái tử Lý Trung (con của Cao Tông và một người thiếp thấp kém, Vương hoàng hậu nhận làm con) bị giáng và bị giết. Con cả của Võ hậu là Lý Hoằng (Lý Cường) được phong thái tử.
Năm 667, Cao Tông quá yếu, giao cho thái tử Lý Cường giám quốc, thực ra vẫn do Võ hậu làm chủ. Năm 674, triều đình tôn Cao Tông là Thiên hoàng, Võ hậu là Thiên hậu. Võ Tắc Thiên thích dùng tôn xưng Thiên hậu cho đến tận khi làm hoàng đế. . Trong chuyến thăm hành cung ở Hà Bắc cùng cha mẹ, ông đã hiểu ra mọi chuyện . Hầu hết các sử gia thời phong kiến cho rằng ông đã bị mẹ đầu độc, nhưng ông không bị giết .
Võ hậu đưa con thứ hai là Lý Hiền lên làm thái tử. Thái tử Lý Hiền vốn có khoảng cách với Võ hậu, lại hay tỏ vẻ bất kính nên bị giáng làm thứ dân năm 684. Sau đưa con thứ ba là Lý Hiển lên thay.Lý Hiền được trở lại vị trí hoàng tư vài năm sau. Ông cố gắng hiếu thảo với mẫu thân Võ Mị Nương và Cao Tông Hoàng Đế.
Trong giai đoạn này, Võ hậu đã có nhiều chính sách chính trị đổi mới, được đánh giá cao.
Hoàng thái hậu [sửa]
Năm 683, Đường Cao Tông băng hà, thái tử Lý Hiển lên ngôi, tức là Đường Trung Tông, Võ Tắc Thiên làm Hoàng thái hậu, nắm toàn bộ chính sự. Một tháng sau, với lý do Đường Trung Tông để vợ là Vi hoàng hậu lộng quyền, Võ hậu phế vua xuống làm Lư Lăng Vương, lập con trai thứ tư (Lý Đán) lên làm vua, tức Đường Duệ Tông. Trong các năm tiếp theo, Võ hậu lần lượt ra tay với các vương gia là con của Đường Thái Tông như Việt vương Lý Trinh, Lang Nha vương Lý Trọng.
Đồng thời Võ hậu cho xây dựng nhiều cung điện, lớn nhất là tòa Minh Đường cao gần ba trăm trượng, sau đổi là Vạn Tượng Thần cung. Minh Đường hoàn thành, có kẻ dâng viên đá trên có chữ "Thánh mẫu lâm nhân, Vĩnh xương đế nghiệp" nên Võ hậu đổi tôn hiệu của mình là Thánh mẫu thần hoàng.
Xưng hoàng đế [sửa]
Năm 690, sư Pháp Minh dâng bốn quyển Đại Vân kinh ca ngợi Võ hậu là Phật Di Lặc xuống trần, là chủ của thiên hạ. Võ hậu sai in rồi phát ra khắp nơi, đề cao Phật giáo trên Đạo giáo.
Tháng 9 năm 690, Võ hậu lên ngôi Hoàng đế cùng với sự nhường ngôi hoàng đế của Đường Duệ Tông, đổi quốc hiệu là Chu với ý kế tục sự nghiệp nhà Chu xưa kia, quốc tính là họ Võ, tôn Chu Văn Vương làm Thủy tổ Văn hoàng đế. Giáng Đường Duệ Tông xuống làm Hoàng tử, rồi sau đó phế bỏ, lại phong cháu là Võ Thừa Tự làm Ngụy vương, Võ Tam Tư làm Lương vương.
Trước đó, Võ hậu đổi cách viết chữ Chiếu trong tên của mình thành (曌), với hình Mặt trời, Mặt Trăng trên không, để tỏ quyền tối thượng. Cùng với đó là 11 chữ khác gọi là Võ hậu tân tự
Lý thuyết chính trị Trung Quốc truyền thống không cho phép một phụ nữ được lên ngôi, Võ hậu quyết định dẹp yên chống đối và đưa các quan lại trung thành vào triều. Từ Kính Nghiệp, một viên tư mã cử binh đánh bà bị thua rồi chết. Một vài thân vương cũng đem quân chống bà, cũng bị giết.
Thời cai trị của bà để dấu ấn về sự xảo quyệt tài tình và chuyên quyền hung bạo. Dưới thời cai trị, bà lập ra tuần tra mật để đối phó với bất kỳ chống đối nào có thể nổi lên, với cái tên khét tiếng Lai Tuấn Thần, Chu Hưng, nhưng đồng thời cũng có những hiền tài như Địch Nhân Kiệt.
Khi về già, Võ hậu sủng ái hai anh em Trương Dịch Chi và Trương Xương Tông là hai kẻ bất tài nhưng đẹp trai, khiến triều đình rất bất bình. Tháng 10 năm 695, sau nhiều lần thêm chữ, tên của bà được đổi thành Thiên Sách Kim Luân Thánh Thần Hoàng Đế, làm lễ phong thiền ở Tung sơn.
Võ hậu phân vân khi chọn người truyền ngôi, giữa con ruột họ Lý và cháu ruột họ Võ. Cuối cùng với sự khuyên giải của Địch Nhân Kiệt, bà quyết định lập Lý Hiển làm thái tử. Tuy nhiên bà bắt các con thề độc rằng không được làm hại họ Võ.
Cuối đời [sửa]
Đến năm 705, Võ hậu ngoài 80 tuổi đã rất ốm yếu. Tháng 2, tể tướng Trương Giản Chi lãnh đạo cuộc đảo chính giết hai anh em họ Trương, xông vào cung buộc Võ hậu truyền ngôi cho thái tử Lý Hiển. Đường Trung Tông Lý Hiển lại lên làm vua lần nữa, Võ hậu trở thành Thái thượng hoàng, rồi qua đời vào tháng 11 năm 705. Khi lâm chung bà yêu cầu dùng thụy hiệu là Hoàng hậu chứ không phải Hoàng đế, do đó không có miếu hiệu.
Bà được chôn tại Càn Lăng, cùng chỗ với Đường Cao Tông. Bia mộ của bà là một tấm bia để trống hoàn toàn (Vô tự bi), với ý là để đời sau phán xét.
Càn Lăng đã ít nhất 17 lần bị âm mưu đục phá, trong đó có 3 lần nghiêm trọng nhất. Lần đầu trong loạn Hoàng Sào, có tới 40 vạn binh sĩ đào bới mé tây đồi Lương Sơn, vạt hẳn một nửa quả đồi. Lần thứ 2 do Ôn Thao, tiết độ sứ tại Diệu Châu thời Ngũ Đại Thập Quốc, kẻ trước đó đã đào trộm 17 ngôi hoàng lăng nhà Đường. Lần thứ 3 do quân Quốc Dân đảng của Tôn Liên Trọng thời Trung Hoa Dân quốc, đã dùng cả thuốc nổ để phá. Nhưng cả 3 lần đều không thành, và Càn Lăng vẫn nguyên vẹn cho tới ngày nay, trở thành di tích khảo cổ và tham quan quý báu. Về điểm này, Võ hậu và chồng đã may mắn hơn những vị hoàng đế nổi tiếng khác, khi mà Mậu Lăng của Hán Vũ Đế, Chiêu Lăng của Đường Thái Tông... đã bị phá sạch trong thời chiến loạn.
Nhận định của đời sau [sửa]
Mặc dù chỉ tồn tại một thời gian ngắn, theo một số nhà sử học, nhà Võ Chu đã có được một hệ thống bình đẳng giới tốt hơn so với nhà Đường giai đoạn tiếp sau nó.
Nhiều người đời sau coi Võ hậu là điển hình của sự độc ác, khi mà vì quyền lực, Võ hậu sẵn sàng hạ thủ người thân, thậm chí ngay cả với con ruột mình. Nhìn vào các sự kiện trong cuộc đời bà theo ám chỉ trong văn chương có thể mang lại nhiều ý nghĩa: một phụ nữ đã vượt qua những giới hạn của mình một cách không thích hợp, thái độ đạo đức giả khi thuyết giáo về lòng trắc ẩn, trong khi cùng lúc ấy lại tiến hành mô hình tham nhũng và hành xử một cách xấu xa, tàn nhẫn ngay cả với người thân và cai trị bằng cách điều khiển từ phía sau hậu trường.
Tuy nhiên, trong triều cũng có nhiều người ủng hộ bà, vì phục bà minh sát, quyết đoán đúng, có tài trị nước. Trong số đó có cả những đại thần hiền năng, được trọng vọng như Lâu Sử Đức, Địch Nhân Kiệt, Tống Cảnh; và bà biết tin dùng những người đó, nên việc chính không rối loạn, dân chúng vẫn yên ổn làm ăn, coi những vụ lộn xộn ở triều chỉ là việc riêng của họ Lí. Khi đọc bài Hịch dẹp Võ Chiếu, trong đó Lạc Tân Vương mạt sát bà thậm tệ, bà đã không giận, còn khen Lạc là có tài và trách viên tể tướng đã không biết thu phục. Về sau, bà bị truất ngôi nhưng không bị giết mà chỉ bị giam trong cung rồi chết vì già yếu, như vậy đủ biết triều thần không quá oán hận bà.[1]
Nhà Chu (690 - 705) [sửa]
| Quy ước: Sử dụng tên riêng | |||
| Miếu hiệu | Họ và Tên | Giai đoạn cai trị | Niên hiệu và khoảng thời gian sử dụng |
|---|---|---|---|
| Không có | Võ Chiếu(武曌) | 690-705 |
Thiên Thụ (天授): 16, tháng 11, 690 - 21 tháng 4, 692 (18 tháng) |
Các tôn hiệu [sửa]
Võ Tắc Thiên rất thích các tôn hiệu mĩ miều, do đó đã nhiều lần thay đổi, thêm bớt chữ vào tôn hiệu, bao gồm:
- Thánh Thần hoàng đế (圣神皇帝)
- Tắc Thiên Đại Thánh hoàng đế (则天大圣皇帝)
- Thánh Mẫu Thần Hoàng (圣母神皇)
- Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (金轮圣神皇帝)
- Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (越古金轮圣神皇帝)
- Từ Thị Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (慈氏越古金轮圣神皇帝)
- Thiên Sách Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (天册金轮圣神皇帝)
Các tôn hiệu của đời sau tôn phong
- Thiên hậu, Đại Thánh Thiên hậu (năm 710 đời Đường Huyền Tông)
- Thiên hậu Thánh đế, Thánh Hậu (năm 712 đời Đường Huyền Tông)
- Tắc Thiên hoàng hậu (716)
- Tắc Thiên Thuận Thánh hoàng hậu (749)
Con [sửa]
- Công chúa An Định: đứa trẻ chết yểu do bị ngạt thở vì thiếu oxy.
- Lý Hoằng (652-675): làm Thái tử , được cha là Đường Cao Tông phong là Hiếu Kính hoàng đế, miếu hiệu Đường Nghĩa Tông
- Lý Hiền: Từng làm Thái tử nhưng bị Võ hậu phế làm Lộ Vương, rồi Phong Ung Vương. Bị Võ hậu bức tử năm 684.
- Lý Hiển: Đường Trung Tông, còn có tên là Lý Triết
- Lý Đán: Đường Duệ Tông, còn có tên là Lý Húc Luân, Lý Luân
- Công chúa Thái Bình
Ghi chú [sửa]
Ghi chú chung: ngày tháng ở đây được lấy theo lịch Julius, không theo lịch Gregory đón trước.
- ^ Năm được suy ra từ tuổi khi chết được ghi trong Tân Đường thư (新唐書), biên soạn vào năm 1045-1060, là năm được các nhà sử học hiện đại lựa chọn. Năm sinh được tính từ Cựu Đường thư (舊唐書), soạn vào năm 941-945, là 623. Năm sinh được tính ra từ Tư trị thông giám được soạn vào năm 1065-1084, là 624. Được Đường Thái Tông đặt tên vào cuối những năm 630 sau khi bà đã vào hoàng cung (xem trong bài).
- ^ Đã phát minh ra ký tự Trung Quốc này vào tháng 12, 689 và lấy đó làm tên. Trở thành tên húy của bà khi bà lên ngôi vào năm sau. Một số nguồn xác nhận rằng từ này được viết trên thực tế Chiếu 瞾 . Một số nguồn cũng cho rằng tên gốc bà được đặt là Chiếu (照) , và rằng năm 689 bà chỉ đổi những phần cấu thành tên bà, nhưng nhưng điều này không được xác nhận trong Cựu Đường thư và trong Tân Đường thư, cả hai đều ghi tên gốc của bà, nếu bà có.
- ^ Bà đã nắm một phần quyền lực vào năm 660, và nắm hoàn toàn quyền lực từ tháng 1, 665 (xem bài bên trong). Nhà Chu được tuyên bố thành lập vào 16 tháng 10, 690, và bà tự tuyên bố mình làm Hoàng đế vào 19 tháng 10, giáng con bà Đường Duệ Tông làm người thừa tự.
- ^ Mất quyền lực sau cuộc đảo chính trong hoàng cung 10 tháng 2, 705. Sau đó vào 22 tháng 2 bị bắt buộc phải trao lại chức vị cho con trai lớn, được lập làm Đường Trung Tông vào 23 tháng 2
- ^ Nhà Chu bị bãi bỏ trước khi bà chết, và bà bị giáng xuống cấp hoàng hậu vợ vua khi chết, vì thế bà không có miếu hiệu. Ở Trung Quốc, hoàng hậu vợ vua, không giống như các hoàng đế cai trị, không được trao miếu hiệu.
- ^ Tắc Thiên là người đầu tiên được trao huy hiệu (徽號) vào tháng 2, 705 bởi người con trai được tái lập làm vua là Trung Tông. Huy hiệu đã được sử dụng làm thụy hiệu của bà tên khi bà chết mười tháng sau đó.
- ^ Tên thụy cuối cùng của bà được đặt vào tháng 7, 749.
Xem thêm [sửa]
Tham khảo [sửa]
- ^ Nguyễn Hiến Lê, sđd.
- Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc.
- Lâm Hán Đạt, Tào Dư Chương, Lịch sử Trung Quốc 5000 năm.
Liên kết ngoài [sửa]
- Nghe truyện Tình sử Võ Tắc Thiên trực tuyến trên trang web kkvn.net
- Vì sao bia mộ Võ Tắc Thiên không có chữ? Lịch sử Việt Nam
| Tiền nhiệm: Đường Duệ Tông |
Hoàng đế Trung Quốc 690–705 |
Kế nhiệm: Đường Trung Tông |
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Võ Tắc Thiên. |