Vũ Xuân Duyên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Vũ Thị Duyên)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vũ Xuân Duyên
Hoàng thái hậu Việt Nam
Tại vị Truy phong
Tiền nhiệm Nghi Thiên Chương Hoàng Hậu
Kế nhiệm Từ Minh Huệ Hoàng hậu
Hoàng thái hậu nhà Nguyễn
Tại vị 1883 - 1889
Tiền nhiệm Từ Dụ Hoàng thái hậu
Kế nhiệm Từ Minh Hoàng thái hậu
Thái hoàng thái hậu nhà Nguyễn
Tại vị 1889 - 1903
Tiền nhiệm Từ Dụ Thái hoàng thái hậu
Kế nhiệm Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phu quân Nguyễn Dực Tông
Tự Đức hoàng đế
Hậu duệ
Tên đầy đủ Vũ Xuân Duyên (武春緣)
Tước hiệu Cung tần
Cần phi
Thuần phi
Trung phi
Hoàng quý phi
Hoàng hậu
Hoàng thái hậu
Thái hoàng thái hậu
Thụy hiệu Lệ Thiên Phụ Thánh Trang Ý Thuận Hiếu Cần Thứ Ôn Từ Hiền Minh Tĩnh Thọ Anh hoàng hậu
儷天輔聖莊懿順孝勤恕溫慈賢明靜壽英皇后
Hoàng tộc Nhà Nguyễn
Thân phụ Vũ Xuân Cẩn
Thân mẫu Trần phu nhân
Sinh Tháng 5, 1828
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
Mất Tháng 4, 1903
Phú Xuân, Đại Nam
An táng Khiêm lăng (謙陵)

Vũ Xuân Duyên (chữ Hán: 武春緣, Tháng 5, 1828 - Tháng 4, 1903), là vợ của vua Tự Đức hoàng đế của triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Bà là người đoan trang, xuất thân từ gia đình danh giá có học vấn, hiểu lễ nghi, rất được Từ Dụ Hoàng thái hậu yêu mến. Bấy giờ Dực Tông hoàng đế không có con, bèn nhận 3 hoàng tử từ trong hoàng gia nhận làm con nuôi, Hoàng hậu được phó thác nuôi dạy Nguyễn Phúc Ưng Chân, tức Nguyễn Cung Tông.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ Xuân Duyên người huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cha bà là Đông Các đại học sĩ Lệ Quốc công Vũ Xuân Cẩn, mẹ là Lệ Quốc phu nhân Trần thị. Bà từ bé nhàn tĩnh đoan nhã, tính khí nhu mì đặc biệt, lại thông thạo sách vở, hiểu nội tấc, cũng như rành rẽ việc trong nhà.

Tiên tổ bà là Vũ Xuân Khoa (武春夸) được tặng làm Trung Thuận đại phu Hồng Lô tự khanh, thụy Lượng Uyên (亮淵); chính thất được tặng Tĩnh Nhàn Cung nhân (靚嫻恭人). Cao tổ tên Vũ Xuân Yên (武春安) được tặng Trung Thuận đại phu Hàn Lâm viện Thị độc học sĩ Thế lộc tử, thụy là Đoan Phác (端璞); chính thất Phạm thị được tặng Hòa Nhu Cung nhân (和柔恭人). Tằng tổ Vũ Xuân Uyên (武春宛), được tặng Gia Nghị đại phu Hàn Lâm viện Chưởng viện học sĩ, tước Đức Hòa bá (德和伯), thụy Đôn Trực (敦直); chính thất Vũ Văn thị được tặng Nhu Giá Thục nhân (柔架淑人). Tổ phụ Vũ Xuân Phổ (武春溥) được tặng Tư thiện đại phu Lễ bộ Thượng thư, tước Thuận Xương hầu (順昌侯), thụy Đôn Nhã (敦若); chính thất Vũ Văn thị làm Phương Huy Đoan nhân (芳撝端人).

Về sau, đích mẫu của Hoàng hậu là Bạch thị được truy tặng Trang Nhân Lệ Quốc phu nhân (莊仁厲國夫人), sinh mẫu Trần thị được phong Trinh Từ Lệ Quốc phu nhân (貞慈厲國夫人).

Vào cung[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), bà được tuyển vào cung hầu Dực Tông Tự Đức, khi đó còn là Hoàng tử, tại Tiềm để [1]. Vốn tính đoan trang, hiếu thuận, nên bà rất được mẹ chồng là Từ Dụ và chồng yêu quý[2].

Năm 1848, Hồng Nhậm lên kế vị, tức Tự Đức hoàng đế. Vũ thị được tấn phong làm Cung tần (恭嬪). Sau đó, bà lần lượt được tấn phong làm Cẩn phi (謹妃, Canh Tuất, 1850), Thuần phi (順妃, Canh Thân, 1860), Trung phi (忠妃, Tân Dậu, 1861), Hoàng quý phi (皇貴妃, Nhâm Tuất, 1862), cho trông coi 6 viện.

Tháng 12, năm 1882, bà bị giáng làm Trung phi, không cho trông coi 6 viện nữa. Nguyên nhân là vì việc quản lý nhân sự của bà không được chu toàn. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép: "Lúc bấy giờ cơ vụ rất nhiều, (vậy mà) có khi quá trưa vua mới được ăn. Vua se mình đang uống thuốc, cung nhân tiến cơm hơi chậm (làm) trái ý vua" [3].

Ngày 16 tháng 6, năm 1883, Tự Đức mất. Trước khi mất, hoàng đế di chiếu tôn bà làm Hoàng hậu, để "trị việc trong nhà và dạy tự quân". Người kế vị là Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Chân, vị hoàng tử được bà dạy dỗ từ trước, tức Nguyễn Cung Tông.

Biến loạn kinh thành[sửa | sửa mã nguồn]

Cung Tông Huệ hoàng đế tại vị được 3 ngày thì bị hai người là Tôn Thất ThuyếtNguyễn Văn Tường phế bỏ [4], giam trong ngục Thừa Thiên, rồi mất sau đó không lâu[5]. Sau khi ép chết Cung Tông, cả 2 ông này lập người em của Dực Tông Anh hoàng đế là Lãng Quốc công Nguyễn Phúc Hồng Dật lên kế vị, tức Văn Lãng Quận vương, con trai thứ 29 của Hiến Tổ Chương hoàng đế.

Mùa thu, năm 1883, theo di chiếu, đình thần định tôn lập bà làm Hoàng hậu. Nhưng chưa kịp tổ chức lễ, thì bà đã đến Gia Thọ cung lạy từ Từ Dụ Hoàng thái hậu để xin ra chầu thờ ở Khiêm Lăng, vì xét thấy mình đã không làm tròn việc dạy dỗ tự quân (tức Cung Tông). Khi ấy, Hiệp Hòa Đế ngỏ ý mời bà đến điện Cao Minh để bái yết và dâng cơm, nhưng bà không nhận mà đi thẳng ra Ôn Khiêm đường ở Khiêm Lăng. Sau khi hỏi ý kiến các tôn nhân và đình thần, Hoàng đế tôn bà là Khiêm Hoàng hậu (謙皇后).

Tháng 10, năm 1883, Hiệp Hòa Đế cũng bị Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường sai người giết chết [6], rồi tôn Giản Tông Nghị hoàng đế lên thay. Tháng 6, năm 1884, Giản Tông băng hà đột ngột. Lập tức, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường tôn Xuất Đế lên thay. Tháng 3, năm 1885, Xuất Đế tấn phong Nghi Thiên Thái hoàng thái hậu, nhân đó muốn xin tôn phong huy hiệu cho Khiêm Hoàng hậu như đúng lễ nhưng bà không nhận.

Lúc xảy ra Trận Kinh thành Huế 1885, Xuất Đế phải xuất bôn ra Quảng Trị, bà cùng chạy theo Nghi Thiên Thái hoàng thái hậu ra đấy. Cùng chạy với bà còn có Học phi Nguyễn Thị Hương, mẹ nuôi của Giản Tông. Sử nhà Nguyễn thường gọi cả ba người là Tam cung (三宮). Khi nghị hòa xong, Tam cung về ngụ ở Khiêm Lăng.

Đến khi Đồng Khánh kế vị, quân đội Pháp trao trả lại kinh thành Huế cho triều đình nhà Nguyễn thì Tam cung quay trở về Kinh thành. Khiêm hoàng hậu về lại cung Trường Ninh, về sau đổi tên là cung Trường Sanh trong Hoàng thành Huế.

Cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27 tháng 4, năm 1887, tức năm Đồng Khánh thứ 2, Cảnh Tông cùng quần thần dâng sách vàng, ấn vàng tôn bà làm Trang Ý Hoàng thái hậu (莊懿皇太后). Đến tháng 10, năm 1889 (Thành Thái năm thứ nhất), bà được tôn làm Trang Ý Thuận Hiếu Thái hoàng thái hậu (莊懿順孝太皇太后).

Tháng 4, năm 1903, Thái hoàng thái hậu qua đời, thọ 75 tuổi. Bà được dâng thụy hiệuLệ Thiên Phụ Thánh Trang Ý Thuận Hiếu Cần Thứ Ôn Từ Hiền Minh Tĩnh Thọ Anh hoàng hậu (儷天輔聖莊懿順孝勤恕溫慈賢明靜壽英皇后), thường gọi tắt là Lệ Thiên Anh Hoàng hậu (儷天英皇后) và được an táng trong Khiêm Thọ lăng (謙壽陵), nằm bên trái Khiêm lăng.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phủ riêng của Trữ quân trước khi lên ngôi
  2. ^ Đại Nam chính biên liệt truyện (quyển 4), bản dịch: trang 84.
  3. ^ Đại Nam chính biên liệt truyện (quyển 4), bản dịch: trang 86.
  4. ^ Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên, bản dịch: trang 498).
  5. ^ Có một vài tác giả viết Cung Tông bị bỏ đói cho đến chết, như ở đây: [1], [2]. Tuy nhiên, theo sử gia Phạm Văn Sơn, thì đang khi hoàng đế hết sức đau đớn vì đói khát, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã sai người giết ông bằng thuốc độc vì sợ để lâu sẽ sinh biến (Việt sử tân biên, quyển 5, tập thượng, 1962, tr. 386).
  6. ^ Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên, bản dịch: trang 501.