Vũ Thị Duyên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lệ Thiên Anh Hoàng Hậu
Hoàng thái hậu Việt Nam
Chính cung nhà Nguyễn
Tại vị 1861 - 1881
Tiền nhiệm Nghi Thiên Chương hoàng hậu
Duy Tân Mai hoàng hậu
Thông tin chung
Phu quân Hoàng đế Tự Đức
Hậu duệ không có con, chỉ có con nuôi là vua Dục Đức
Tên đầy đủ Vũ Thị Duyên
Tước hiệu Cung tần
Cần phi
Thuần phi
Trung phi
Hoàng Quý phi
Hoàng hậu
Hoàng thái hậu
Thái hoàng thái hậu
Thụy hiệu Anh Hoàng hậu(英皇后)
Miếu hiệu Lệ Thiên
Hoàng tộc Nhà Nguyễn
Thân phụ Vũ Xuân Cẩn
Thân mẫu Trần phu nhân
Sinh 1828
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
Mất 1903
Phú Xuân, Đại Nam
An táng bên trái Khiêm lăng

Vũ Thị Duyên (chữ Hán: 武氏緣, 1828-1903) là vợ chính của Hoàng đế Tự Đức trong vương triều nhà Nguyễn (Việt Nam).

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Bà là người huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cha bà là đại thần Vũ Xuân Cẩn, mẹ là Trần phu nhân (không rõ tên).

Được tuyển vào cung[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thiệu Trị thứ 3 (Quý Mão, 1843), bà được tuyển vào cung hầu (làm vợ) Hoàng tử Nguyễn Phúc Hồng Nhậm. Vốn tính đoan trang, hiếu thuận, nên bà rất được mẹ chồng (Hoàng Quý phi Từ Dụ) và chồng yêu quý[1].

Sau khi chồng bà nối ngôi vua lấy hiệu là Tự Đức, năm Mậu Thân (Tự Đức thứ nhất, 1848), bà được tấn phong làm Cung tần. Sau đó, bà lần lượt được tấn phong làm Cẩn phi (Canh Tuất, 1850), Thuần phi (Canh Thân, 1860), Trung phi (Tân Dậu, 1861), Hoàng quý phi (Nhâm Tuất, 1862) cho trông coi 6 viện.

Tuy nhiên, cuối năm đó (1862), bà bị giáng làm Trung phi, không cho trông coi 6 viện nữa. Nguyên nhân là vì việc quản lý nhân sự của bà không được chu toàn. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép: "Lúc bấy giờ cơ vụ rất nhiều, (vậy mà) có khi quá trưa vua mới được ăn. Vua se mình đang uống thuốc, cung nhân tiến cơm hơi chậm (làm) trái ý vua" [2]

Ngày 16 tháng 6 (âm lịch) năm Quý Mùi (1883), vua Tự Đức mất. Trước khi mất, nhà vua di chiếu tôn bà làm Hoàng hậu, để "trị việc trong nhà và dạy tự quân" (tức vua Dục Đức)[2].

Trong cơn biến động của vương triều[sửa | sửa mã nguồn]

Thế nhưng, làm vua chỉ được mấy ngày thì vua Dục Đức bị hai quan Phụ chính là Tôn Thất ThuyếtNguyễn Văn Tường "phế bỏ" [3], giam trong ngục Thừa Thiên, rồi mất sau đó không lâu[4].

Mùa thu năm ấy (1883), theo di chiếu, đình thần định lập bà làm Hoàng hậu. Nhưng chưa kịp tổ chức lễ, thì bà đã đến cung Gia Thọ lạy từ mẹ chồng là Từ Dụ Thái hoàng Thái hậu (tước phong của Từ Dụ lúc ấy) để xin ra chầu thờ ở Khiêm lăng (Lăng Tự Đức), vì xét thấy mình đã không làm tròn việc dạy dỗ "tự quân" (Dục Đức).

Khi ấy, vua mới là Hiệp Hòa ngỏ ý mời bà đến điện Cao Minh để bái yết và dâng cơm, nhưng bà không nhận mà đi thẳng ra Khiêm lăng. Sau khi hỏi ý kiến các tôn nhân và đình thần, nhà vua tôn bà là Khiêm Hoàng hậu.

Tháng 10 (âm lịch) năm ấy (1883), vua Hiệp Hòa cũng bị Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường sai người giết chết [5], rồi tôn Kiến Phúc lên thay.

Tháng 6 (âm lịch) năm Giáp Thân (1884), vua Kiến Phúc mất đột ngột (còn nhiều nghi vấn). Lập tức, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường tôn Hàm Nghi lên thay.

Tháng 3 (âm lịch) năm Ất Dậu (1885), vua Hàm Nghi tấn phong Từ Dụ làm Từ Dụ Thái hoàng Thái hậu. Ngay sau đó, nhà vua cũng định làm lễ tấn tôn huy hiệu cho Khiêm Hoàng hậu, nhưng bà không nhận.

Tháng 5 (âm lịch) năm ấy, sau trận tấn công quân Pháp không thành công, vua Hàm Nghi phải xuất bôn ra Quảng Trị, thì bà cũng chạy theo. Cùng chạy với bà còn có Từ Dụ Thái hoàng Thái hậu và Hoàng Thái phi Nguyễn Thị Hương (vợ thứ của vua Tự Đức). Sử nhà Nguyễn thường gọi cả ba người là Tam cung.

Khi nghị hòa xong, Tam cung về ngụ ở Khiêm lăng. Đến khi Đồng Khánh nối ngôi vua, quân Pháp trao trả lại kinh thành Huế, ai về chỗ nấy, thì Khiêm Hoàng hậu về lại cung Trường Ninh (về sau đổi tên là cung Trường Sanh) trong Hoàng thành Huế.

Ngày 27 tháng 4 (âm lịch) năm Đinh Hợi (1887, Đồng Khánh thứ 2), nhà vua cùng quần thần dâng sách vàng, ấn vàng tôn bà làm 'Trang Ý Hoàng Thái hậu.

Đến tháng 10 (âm lịch) năm 1889 (Thành Thái năm thứ nhất), bà được tôn làm Trang Ý Thuận Hiếu Thái hoàng thái hậu.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 (âm lịch) năm Quý Mão (1903) Trang Ý Hoàng Thái Hậu mất, thọ 75 tuổi.

Sau đó, bà được dâng thụy hiệuLệ Thiên Phụ Thánh Trang Ý Thuận Hiếu Cần Thứ Ôn Từ Hiền Minh Tĩnh Thọ Anh hoàng hậu, và được an táng trong Khiêm Thọ lăng, nằm bên trái Khiêm lăng.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Nam chính biên liệt truyện (quyển 4), bản dịch: trang 84.
  2. ^ a ă Đại Nam chính biên liệt truyện (quyển 4), bản dịch: trang 86.
  3. ^ Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên, bản dịch: trang 498).
  4. ^ Có một vài tác giả viết vua Dục Đức bị bỏ đói cho đến chết, như ở đây: [1], [2]. Tuy nhiên, theo sử gia Phạm Văn Sơn, thì đang khi nhà vua hết sức đau đớn vì đói khát, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã sai người giết vua bằng thuốc độc vì sợ để lâu sẽ sinh biến (Việt sử tân biên, quyển 5, tập thượng, 1962, tr. 386).
  5. ^ Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên, bản dịch: trang 501.
Vũ Thị Duyên
Tước hiệu
Tiền vị:
Nghi Thiên Chương hoàng hậu
Hoàng hậu Việt Nam
1861-1881
Kế vị
Duy Tân Mai hoàng hậu