Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Vương quốc Liên hiệp Anh)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Flag of the United Kingdom.svg Royal Coat of Arms of the United Kingdom.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Vương quốc Anh
Khẩu hiệu
Dieu et mon droit  (Tiếng Pháp)
("Chúa và quyền của tôi")
Quốc ca
God Save the Queen 4
(Chúa phù hộ Nữ hoàng)
Hành chính
Chính phủ Quân chủ lập hiến
 • Nữ hoàng
 • Thủ tướng
Elizabeth II
David Cameron (Đảng Bảo thủ)
Thủ đô Luân Đôn (Luân Đôn)
51°30′B, 0°7′T
Thành phố lớn nhất Luân Đôn
Địa lý
Diện tích 243.610 km² (hạng 80)
Diện tích nước 1,34% %
Múi giờ GMT (UTC+0); mùa hè: BST (UTC+1)
Lịch sử
Ngày thành lập 1801 6
Dân cư
Dân số ước lượng (2013) 64.100.000[1] người (hạng 22)
Dân số (2011) 63.181.775[2] người
Mật độ 255,6 người/km² (hạng 51)
Kinh tế
GDP (PPP) (2014) Tổng số: 2.435 tỷ $[3] (hạng 10)
Bình quân đầu người: 37.744 $[3] (hạng 27)
GDP (danh nghĩa) (2014) Tổng số: 2.848 tỷ $[3] (hạng 6)
Bình quân đầu người: 44.141 $[3] (hạng 22)
HDI (2003) 0,939 cao (hạng 15)
Đơn vị tiền tệ Đồng bảng Anh (GBP)
Thông tin khác
Tên miền Internet .uk 7
  1. Vương quốc đã công nhận vài ngôn ngữ khác như ngôn ngữ miền bản địa dưới Hiến chương Âu Châu về Ngôn ngữ Miền và Thiểu số. Trong những ngôn ngữ này, tên chính thức của Vương quốc là:
    • Tiếng Scots: Unitit Kinrick o Great Breetain an Northren Ireland
    • Tiếng Wales: Teyrnas Unedig Prydain Fawr a Gogledd Iwerddon
    • Tiếng Gaelic: An Rìoghachd Aonaichte na Breatainn Mhòr agus Eirinn a Tuath
    • Tiếng Gaeilge: Ríocht Aontaithe na Breataine Móire agus Tuaisceart na hÉireann
    • Tiếng Cornwall: An Rywvaneth Unys a Vreten Veur hag Iwerdhon Glédh
  2. Cũng có phiên bản để sử dụng ở Scotland; xem Hoàng hiệu Vương quốc Anh để biết thêm chi tiết.
  3. Khẩu hiệu hoàng gia của Scotland là Nemo Me Impune Lacessit (Tiếng Latinh) ("Không ai khiêu khích tôi mà không bị trừng phạt.")
  4. Không chính thức.
  5. Các ngôn ngữ được công nhận chính thức: tại Wales, tiếng Wales, và tại Scotland, tiếng Gaelic Scotland sau một đạo luật vào năm 2005. Đôi khi tiếng Pháp Norman cũng được dùng chính thức.
  6. Thành lập dưới tên Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Tên đổi thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland vào năm 1927.
  7. Theo ISO 3166-1 mã quốc gia là "GB" (viết tắt của "Great Britain"), nhưng chưa sử dụng .gb.

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland hay Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (tiếng Anh: United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland; phát âm tiếng Anh: /ɡrt ˈbrɪt(ə)n ənd ˈnɔːð(ə)n ˈʌɪələnd/), thường gọi là Anh Quốc hoặc Anh, là một quốc gia có chủ quyền tại châu Âu. Quốc gia này nằm tại ngoài khơi đại lục châu Âu, bao gồm đảo Anh và phần đông bắc của đảo Ireland, cùng nhiều đảo nhỏ. Bắc Ireland là bộ phận duy nhất của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có một biên giới trên bộ với quốc gia khác: Cộng hòa Ireland.[nb 1] Ngoài biên giới trên bộ này, bao quanh Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là Đại Tây Dương, trong đó biển Bắc tại phía đông và eo biển Manche tại phía nam. Biển Ireland nằm giữa đảo Anh và đảo Ireland. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có diện tích 243.610 km², là quốc gia có chủ quyền rộng thứ 78 trên thế giới và rộng thứ 11 tại châu Âu.

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là quốc gia đông dân thứ 22 trên thế giới, với khoảng 64,1 triệu cư dân.[1] Đây là một quốc gia quân chủ lập hiến với một thể chế đại nghị trong cai trị.[4][5] Thủ đô Luân Đôn là một thành phố toàn cầu và là trung tâm tài chính, cũng là khu vực đô thị lớn thứ tư tại châu Âu.[6] Quân chủ hiện nay là Nữ vương Elizabeth II. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland gồm bốn quốc gia: Anh (England), Scotland, Wales, và Bắc Ireland.[7] Ba quốc gia sau được trao quyền cai trị,[8] Guernsey, Jersey, và đảo Man không phải là bộ phận của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, các lãnh thổ này là thuộc địa hoàng gia và Chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland chịu trách nhiệm về quốc phòng và đại diện quốc tế.[9] Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland cũng có 14 lãnh thổ hải ngoại,[10] các lãnh thổ đang tranh chấp là quần đảo Falkland, Gibraltar, và Lãnh thổ Ấn Độ Dương.

Quan hệ giữa các quốc gia trong Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland biến hóa theo thời gian. Wales được hợp nhất vào Vương quốc Anh theo các Đạo luật Liên Minh vào năm 1536 và 1543. Một hiệp định giữa Anh và Scotland có kết quả là một Vương quốc Anh thống nhất vào năm 1707, đến năm 1801 thì vương quốc này hợp nhất với Vương quốc Ireland để hình thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Năm 1922, 5/6 lãnh thổ Ireland ly khai khỏi Vương quốc Liên hiệp, để lại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland như hiện nay.[nb 2] Các lãnh thổ hải ngoại của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nguyên là những thuộc địa, chúng là tàn dư của Đế quốc Anh từng bao phủ gần một phần tư đại lục trên thế giới vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 và là đế quốc lớn nhất trong lịch sử. Ảnh hưởng của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có thể nhận thấy trong ngôn ngữ, văn hóa, hệ thống tư pháp có nhiều cựu thuộc địa.

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một quốc gia phát triển, có kinh tế lớn thứ sáu thế giới theo GDP danh nghĩa và lớn thứ 10 theo sức mua tương đương. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được nhận định là có một kinh tế thu nhập cao và được phân loại là rất cao theo Chỉ số phát triển con người. Đây là quốc gia công nghiệp hóa đầu tiên trên thế giới và cường quốc đứng đầu thế giới trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.[11][12] Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland duy trì vị thế một đại cường quốc, với các ảnh hưởng đáng kể về kinh tế, văn hóa, quân sự, khoa học, và chính trị trên quy mô quốc tế.[13][14] Đây là một quốc gia vũ khí hạn nhân được công nhận và xếp hạng 5 hay 6 về chi tiêu quân sự trên thế giới.[15][16] Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một thành viên thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc kể từ phiên họp đầu tiên của cơ cấu vào năm 1946. Quốc gia này cũng là thành viên của Liên minh châu Âu, Thịnh vượng chung các Quốc gia, hội đồng châu Âu, G7, G8, G20, NATO, OECD, và WTO.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (The United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland) có nhiều tên gọi cho một quốc gia, nhiều tên gọi khác nhau cho những thực thể khác nhau song thường bị dùng nhầm lẫn một cách phổ biến với từ EnglandGreat Britain:

  • England: Anh quốc, nước Anh.
  • Great Britain (còn gọi là Britain): Liên hiệp Anh, bao gồm England, Wales và Scotland. Tên này lần đầu tiên được dùng vào năm 1707 khi đạo luật hợp nhất Scotland với England và Wales ra đời. Đúng ra thì Great Britain chỉ là một khu vực địa lý chỉ hòn đảo lớn mà nó được chia thành England, Wales và Scotland; và mặc dù đã được hợp nhất, nhưng Great Britain hay Britain thực chất chỉ là một liên hiệp giữa 3 thực thể này.

Tên gọi ngắn gọn: The United Kingdom, The UK. The United Kingdom gồm England, Wales, Scotland và Ireland được thành lập vào năm 1801; đến năm 1922, Nam Ireland tách ra và năm 1949 thì trở thành một nước cộng hòa độc lập với tên gọi Cộng hòa Ireland.

Đã từ lâu người ta thường dùng England một cách nhầm lẫn để chỉ Britain và cả the United Kingdom; và hiện nay Great Britainthe United Kingdom được dùng để chỉ cùng một thực thể - tuy nhiên, đây chỉ là cách gọi không chính thức.

Trong tiếng Việt, liên hiệp này thường được gọi theo lối lấy tên gọi của bộ phận để chỉ chỉnh thể là Anh hoặc Anh quốc. Cách gọi này bắt nguồn từ Trung Quốc. Anh (Trung văn: 英) và Anh quốc (Trung văn giản thể: 英国; Trung văn phồn thể: 英國) là giản xưng của Anh Cát Lợi (英吉利) và Anh Cách Lan (Trung văn giản thể: 英格兰; Trung văn phồn thể: 英格蘭), vốn đều là tên dịch âm Trung văn của quốc hiệu "England". Do Anh có vai trò và ảnh hưởng to lớn trong quá trình hình thành và phát triển của Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland và sau đó là Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nên Anh được nhiều người xem là chủ thể của các vương quốc liên hiệp đó. Cho đến hiện nay trong tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật, tiếng Triều Tiêntiếng Việt "Anh quốc" vẫn là tục xưng thường gặp của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Do trong tiếng Việt "Anh" không chỉ được dùng để chỉ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland mà còn được dùng để dịch các tên gọi "England" và "Britain" nên dễ nảy sinh sự nhầm lẫn, khó phân biệt, khó khăn trong dịch thuật.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước 1707[sửa | sửa mã nguồn]

Stonehenge tại Wiltshire được dựng vào khoảng năm 2500 TCN.

Người hiện đại trên phương diện giải phẫu đến định cư tại khu vực nay là Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trong các làn sóng bắt đầu từ khoảng 30.000 năm trước.[17] Đến khi kết thúc thời kỳ tiền sử trong khu vực, cư dân được nhận định chủ yếu thuộc về một nền văn hóa được đặt tên là Celt Đảo, gồm người Briton tại đảo Anh và người Gael tại Ireland.[18] Người La Mã bắt đầu chinh phục đảo Anh vào năm 43 CN, và cai trị miền nam đảo Anh trong 400 năm, tiếp theo là một cuộc xâm chiếm của những người định cư Anglo-Saxon thuộc chủng Germain, thu nhỏ khu vực của người Briton còn chủ yếu là Wales ngày nay và Vương quốc Strathclyde.[19] Hầu hết khu vực mà người Anglo-Saxon định cư thống nhất thành Vương quốc Anh (England) trong thế kỷ 10.[20] Trong khi đó, những người nói tiếng Gael tại tây bắc đảo Anh (có liên hệ với đông bắc của Ireland và theo truyền thống được cho là di cư từ đó từ thế kỷ 5)[21][22] hợp nhất với người Pict để hình thành Vương quốc Scotland trong thế kỷ 9.[23]

Năm 1066, người Norman từ Pháp xâm chiếm Anh và sau cuộc chinh phục này, người Norman chiếm phần lớn Wales, chinh phục hầu hết Ireland và được mời đến định cư tại Scotland, đem đến mỗi quốc gia chế độ phong kiến theo mô hình miền bắc Pháp và văn hóa Norman-Pháp.[24] Tầng lớp quý tộc Norman có ảnh hưởng rất lớn, song cuối cùng bị đồng hóa vào mỗi văn hóa địa phương.[25] Sau đó, các quốc vương Anh thời Trung Cổ hoàn thành chinh phục Wales và tiến hành một nỗ lực bất thành nhằm thôn tính Scotland. Sau đó, Scotland duy trì vị thế độc lập của bản thân, song xảy ra xung đột gần như liên tục với Anh. Các quân chủ Anh thừa kế các lãnh thổ tại Pháp và yêu sách vương vị Pháp, tham dự cao độ trong các xung đột tại Pháp, đáng chú ý nhất là Chiến tranh Trăm Năm, trong khi các quốc vương của người Scot nằm trong một liên minh với Pháp trong thời kỳ này.[26]

Thảm Bayeux miêu tả trận Hastings và các sự kiện dẫn đến trận đánh.

Trong thời kỳ hiện đại ban đầu, diễn ra xung đột tôn giáo do kết quả từ Cải Cách và đưa Tin Lành làm quốc giáo tại mỗi quốc gia.[27] Wales hoàn toàn được hợp nhất vào Vương quốc Anh,[28] và Ireland trở thành một vương quốc có liên minh cá nhân với quân chủ Anh.[29] Tại khu vực mà nay là Bắc Ireland, đất của những quý tộc Gael theo Công giáo độc lập bị tịch thu và trao cho những người định cư Tin Lành từ Anh và Scotland.[30]

Năm 1603, các vương quốc Anh, Scotland và Ireland được thống nhất trong một liên minh cá nhân khi Quốc vương của người Scot là James VI kế vị vương vị của Anh và Ireland và chuyển triều đình của mình từ Edinburgh đến Luân Đôn; tuy vậy mỗi quốc gia duy trì vị thế một thực thể chính trị riêng biệt và duy trì các cơ cấu chính trị, lập pháp, và tôn giáo riêng biệt.[31][32]

Đến giữa thế kỷ 17, toàn bộ ba vương quốc đều tham dự trong một loạt chiến tranh liên tiếp (trong đó có Nội chiến Anh) dẫn đến lật đổ tạm thời chế độ quân chủ và thiết lập cộng hòa nhất thể đoản mệnh là Thịnh vượng chung Anh, Scotland và Ireland.[33][34]

Mặc dù chế độ quân chủ được khôi phục, song được đảm bảo (với Cách mạng Vinh Quang năm 1688) rằng, không giống với phần còn lại của châu Âu, chính thể chuyên chế vương thất sẽ không được lưu hành, và một người Công giáo công khai có thể không bao giờ được ngồi lên vương vị. Hiến pháp Anh Quốc sẽ phát triển trên cơ sở chế độ quân chủ lập hiến và thể chế đại nghị.[35] Trong thời kỳ này, đặc biệt là tại Anh, sự phát triển năng lực hải quân dẫn đến việc thâu tóm và định cư tại các thuộc địa hải ngoại, đặc biệt là tại Bắc Mỹ.[36][37]

Sau năm 1707[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp định Liên Minh dẫn đến một vương quốc liên hiệp duy nhất bao gồm toàn đảo Anh.

Ngày 1 tháng 5 năm 1707, Vương quốc Anh (Great Britain) hợp nhất được sản sinh, là kết quả của các Đạo luật Liên Minh do quốc hội của Anh và Scotland thông qua nhằm phê chuẩn Hiệp định Liên Minh và do đó hợp nhất hai vương quốc.[38][39][40] Một loại cuộc nổi dậy Jacobite nhằm loại bỏ gia tộc Hannover Tin Lành khỏi vương vị Anh Quốc và khôi phục gia tộc Stuart Công giáo. Phe Jacobite cuối cùng thất bại trong trận Culloden vào năm 1746, sau đó những người Scot vùng cao bị đàn áp tàn nhẫn. Các thuộc địa của Anh Quốc tại Bắc Mỹ ly khai trong Cách mạng Mỹ để trở thành Hợp chúng quốc Hoa Kỳ vào năm 1782. Thạm vọng đế quốc của Anh chuyển sang những nơi khác, đặc biệt là Ấn Độ.[41] Thuật ngữ 'Vương quốc Liên hiệp' được chính thức hóa vào năm 1801 khi các quốc hội của Anh Quốc và Ireland thông qua các Đạo luật Liên Minh, thống nhất hai vương quốc và thiết lập Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland.[42]

Đến đầu thế kỷ 19, Cách mạng công nghiệp do Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland dẫn đầu bắt đầu biến đổi quốc gia. Cách mạng dần khiến quyền lực chính trị rời xa các tầng lớp địa chủ Tory và Whig cũ để hướng về những nhà tư bản công nghiệp mới. Một liên minh của giới công thương với phe Whig dẫn đến hình thành phe Tự do, với tư tưởng mậu dịch tự do và vô can thiệp. Năm 1832, Quốc hội thông qua Đạo luật Đại cải cách, bắt đầu chuyển giao quyền lực chính trị từ tầng lớp quý tộc cho giai cấp trung lưu. Tại nông thôn, phong trào rào đất đẩy những nông dân nhỏ rời đi. Dân số thành thị bắt đầu tăng lên với một tầng lớp lao động đô thị mới. Rất ít công nhân bình thường có quyền bỏ phiếu và họ thiết lập các tổ chức của bản thân theo hình thức công đoàn.

Trận Waterloo đánh dấu kết thúc các cuộc chiến tranh của Napoléon và khởi đầu Pax Britannica.

Sau khi đánh bại Pháp trong Cách mạng PhápCác cuộc chiến tranh của Napoléon (1792–1815), Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland nổi lên thành cường quốc hải quân và đế quốc chủ yếu trong thế kỷ 19 (với Luân Đôn là đô thị lớn nhất thế giới từ khoảng 1830).[43] Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland không bị thách thức trên biển, ưu thế của họ về sau được mô tả là Pax Britannica (Hòa bình Anh).[44][45] Thời điểm diễn ra Đại Triển lãm năm 1851, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland được mô tả là "công xưởng của thế giới".[46] Đế quốc Anh được khoách trương, gồm có Ấn Độ, nhiều bộ phận tại châu Phi và các lãnh thổ khác trên toàn thế giới. Bên cạnh kiểm soát chính thức các thuộc địa, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland còn kiểm soát có hiệu quả kinh tế của nhiều quốc gia như Đại Thanh, Argentina và Xiêm La.[47][48] Tại nội địa, quan điểm chính trị ủng hộ các chính sách mậu dịch tự do và vô can thiệp và dần mở rộng quyền bầu cử. Trong thế kỷ này, dân số gia tăng với tốc độ mạnh mẽ, kèm theo là đô thị hóa nhanh chóng, gây nên các áp lực nghiêm trọng về xã hội và kinh tế.[49] Sau năm 1875, thế độc quyền công nghiệp của Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland bị Đức và Hoa Kỳ thách thức. Nhằm tìm kiếm các thị trường và nguồn cung nguyên liệu thô mới, Đảng Bảo thủ dưới quyền Benjamin Disraeli khởi đầu một thời kỳ khoách trương đế quốc tại Ai Cập, Nam Phi và những nơi khác. Canada, Úc và New Zealand trở thành các quốc gia tự quản.[50]

Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland cùng với Pháp, Nga và (sau 1917) Hoa Kỳ chiến đấu với Đức và đồng minh của nước này trong Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914–18).[51] Các lực lượng vũ trang Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland chiến đấu trên hầu hết Đế quốc Anh và một số khu vực của châu Âu, đặc biệt là Mặt trận phía Tây.[52] Sau Chiến tranh, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland tiếp nhận ủy thác của Hội Quốc Liên đối với một số cựu thuộc địa của Đức và Ottoman. Đế quốc Anh đạt đến quy mô cực đại, bao trùm một phần năm bề mặt lãnh thổ và một phần tư dân số thế giới.[53] Tuy nhiên, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland chịu tổn thất 2,5 triệu thương vong và kết thúc chiến tranh với nợ quốc gia khổng lồ.[52] Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Ireland và các tranh chấp nội bộ của Ireland về các điều khoản tự trị địa phương cuối cùng dẫn đến phân chia đảo vào năm 1921,[54]Quốc gia Tự trị Ireland được độc lập với địa vị quốc gia tự trị vào năm 1922. Bắc Ireland duy trì là bộ phận của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.[55] Một làn sóng đình công vào giữa thập niên 1920, đỉnh điểm là tổng đình công Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland năm 1926. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland vẫn không khôi phục sau các tác động của chiến tranh khi Đại khủng hoảng (1929–32) diễn ra, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao và khó khăn tại các khu vực công nghiệp cũ, cũng như các bất ổn chính trị và xã hội trong thập niên 1930. Một chính phủ liên minh được hình thành vào năm 1931.[56]

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai khi tuyên chiến với Đức vào năm 1939. Đến năm 1940, Winston Churchill trở thành thủ tướng và đứng đầu một chính phủ liên minh. Bất chấp thất bại của các đồng minh tại châu Âu trong năm đầu chiến tranh, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tiếp tục đơn độc chiến đấu chống Đức. Sau khi Đức chiến bại, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trở thành một trong ba cường quốc tụ họp nhằm dự tính về thế giới hậu chiến; trở thành một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, thế chiến khiến Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland suy yếu nghiêm trọng và phụ thuộc về tài chính vào viện trợ Marshall và các khoản vay từ Hoa Kỳ.[57]

Các lãnh thổ từng thuộc Đế quốc Anh.

Ngay sau thế chiến, chính phủ của Công đảng khởi xướng một chương trình cải cách triệt để, có tác động đáng kể đến xã hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trong các thập niên sau.[58] Các ngành công nghiệp chủ yếu và tiện ích công cộng được quốc hữu hóa, hình thành một nhà nước phúc lợi, và một hệ thống y tế toàn diện nhận tài trợ công được thiết lập mang tên Dịch vụ y tế quốc dân.[59] Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc tại các thuộc địa diễn ra đồng thời với vị thế kinh tế của Anh bị suy yếu đi nhiều, do đó một chính sách phi thuộc địa hóa là không thể tránh khỏi. Độc lập được trao cho Ấn ĐộPakistan vào năm 1947.[60] Trong ba thập niên sau đó, hầu hết thuộc địa trong Đế quốc Anh giành được độc lập, nhiều cựu thuộc địa trở thành thành viên của Thịnh vượng chung các Quốc gia.[61]

Mặc dù Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là quốc gia thứ ba phát triển vũ khí hạt nhân, song các hạn chế mới trong vị thế quốc tế của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thời hậu chiến được thấy rõ trong khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956. Sự truyền bá ở quy mô quốc tế của tiếng Anh giúp văn học và văn hóa Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đảm bảo tiếp tục có ảnh hưởng quốc tế. Từ thập niên 1960 trở đi, văn hóa đại chúng của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland cũng có ảnh hưởng tại ngoại quốc. Do tình trạng thiếu công nhân trong thập niên 1950, chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland khuyến khích nhập cư từ các quốc gia trong Thịnh vượng chung. Trong các thập niên sau đó, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trở thành một xã hội đa dân tộc.[62] Mặc dù tiêu chuẩn sinh hoạt được nâng cao vào cuối thập niên 1950 và trong thập niên 1960, song thành tích kinh tế của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland không được thành công như nhiều đối thủ của họ, chẳng hạn như Tây Đức và Nhật Bản. Năm 1973, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC), và khi EEC trở thành Liên minh châu Âu (EU) vào năm 1992, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một trong 12 thành viên sáng lập.

Sau hai lần bị Pháp phủ quyết vào năm 1961 và 1967, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tham gia Liên minh châu Âu vào năm 1973.

Từ cuối thập niên 1960, Bắc Ireland trải qua náo loạn công cộng và bán vũ trang (đôi khi tác động đến các bộ phận khác của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland), tình trạng này thường được gọi trong tiếng Anh là the Troubles. Nó thường được nhận định là kết thúc bằng Hiệp định "Thứ sáu tốt lành" Belfast năm 1998.[63][64][65]

Sau một thời kỳ suy thoái kinh tế và xung đột công nghiệp lan rộng trong thập niên 1970, chính phủ Bảo thủ trong thập niên 1980 khởi xướng một chính sách cấp tiến về chủ nghĩa tiền tệ, bãi bỏ các quy định đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính và thị trường lao động, bán các công ty quốc hữu (tư hữu hóa), và rút trợ cấp cho các lĩnh vực khác.[66] Điều này dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao và bất ổn xã hội, song cuối cùng cũng giúp kinh tế tăng trưởng, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ. Từ năm 1984, kinh tế được tiếp thêm sinh lực từ thu thập đến từ dầu biển Bắc.[67]

Khoảng cuối thế kỷ 20, có các biến hóa lớn trong việc cai trị Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland khi thiết lập chính phủ cho Scotland, Wales và Bắc Ireland.[8][68] Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland duy trì là một quốc gia quan trọng trên quy mô toàn cầu trong ngoại giao và quân sự, có vai trò lãnh đạo hàng đầu trong Liên minh châu Âu, Liên Hiệp Quốc và NATO. Tuy nhiên, tồn tại tranh luận quanh các vụ triển khai quân sự ra hải ngoại của Anh, đặc biệt là tại AfghanistanIraq.[69] Khủng hoàng tài chính toàn cầu 2008 có tác động nghiêm trọng đến kinh tế Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Năm 2010, chính phủ liên minh tiến hành các biện pháp khắc khổ nhằm mục đích giảm thâm hụt ngân sách và thu được kết quả.[70] Tháng 9 năm 2014, đa số cử tri Scotland bác bỏ đề xuất độc lập cho Scotland trong một cuộc trưng cầu dân ý.[71]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Elizabeth II là Nữ vương của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và các vương quốc Thịnh vượng chung khác.

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một quốc gia nhất thể theo thể chế quân chủ lập hiến. Nữ vương Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, và cũng là quân chủ của 15 quốc gia Thịnh vượng chung độc lập khác.[72] Quân chủ có "quyền được tham vấn, quyền khích lệ, và quyền cảnh cáo".[73] Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một trong bốn quốc gia duy nhất trên thế giới có một hiến pháp bất thành văn.[74][nb 3] Hiến pháp Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland do đó chủ yếu gồm một tập hợp các nguồn thành văn riêng biệt, gồm có các pháp quy, tiền lệ pháp và các hiệp định quốc tế, cùng với các quán lệ hiến pháp. Do không có khác biệt về mặt kỹ thuật giữa các pháp quy thông thường và "luật hiến pháp", Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có thể thi hành "cải cách hiến pháp" bằng cách chỉ cần thông qua các đạo luật quốc hội, và do đó có quyền lực chính trị trong việc cải biến hoặc phế trừ bất kỳ các yếu tố thành văn hoặc bất thành văn của hiến pháp. Tuy nhiên, không có khóa quốc hội nào có thể thông qua các đạo luật mà các khóa quốc hội sau không thể cải biến.[75]

Chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có một chính phủ nghị viện dựa theo Hệ thống Westminster, một hệ thống được mô phỏng trên khắp thế giới do di sản của Đế quốc Anh. Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland họp tại Cung điện Westminster với hai viện; Thứ dân viện được bầu cử, tức Hạ viện, và một Quý tộc viện được bổ nhiệm, tức Thượng viện. Tất cả các dự luật thông qua phải được ngự chuẩn trước khi thành luật.

Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland,[76] thuộc về cá nhân có năng lực nhất trong điều khiển phát biểu trong Thứ dân viện; nhân vật này thường là lãnh tụ của chính đảng hoặc liên minh các chính đảng có số ghế lớn nhất trong viện này. Thủ tướng lựa chọn một nội các và họ được quân chủ chính thức bổ nhiệm để hình thành chính phủ của quân chủ bệ hạ. Theo quán lệ, Nữ vương tôn trọng các quyết định của thủ tướng trong chính phủ.[77]

Cung điện Westminster là nơi đặt trụ sở của lưỡng viện Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland

Theo truyền thống, các thành viên trong nội các xuất thân từ đảng hoặc liên minh của thủ tướng và hầu hết đến từ Thứ dân viện, song luôn có các thành viên đến từ cả lưỡng viện, nội các chịu trách nhiệm với cả lưỡng viện. Quyền lực hành pháp do thủ tướng và nội các thi hành, những nhân vật này đều phải tuyên thệ trước Xu mật viện Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, và trở thành các đại thần vương quốc. Trong bầu cử Thứ dân viện, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland hiện được phân thành 650 khu vực tuyển cử,[78] mỗi khu vực bầu ra một thành viên đại diện duy nhất theo nguyên tắc đa số chế giản đơn. Quân chủ yêu cầu tổng tuyển cử khi được thủ tướng khuyến nghị như vậy. Các đạo luật Quốc hội năm 1911 và 1949 yêu cầu rằng một cuộc tuyển cử mới cần phải được tổ chức không muộn hơn 5 năm sau tổng tuyển cử trước đó.[79]

Ba chính đảng chủ yếu tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là Đảng Bảo thủ, Công đảng và Dân chủ Tự do, lần lượt đại diện cho các truyền thống bảo thủ, xã hội và tự do xã hội của Vương quốc Liên hiệp. Trong tổng tuyển cử năm 2010, ba đảng này giành được 622 trong tổng số 650 ghế của Thứ dân viện.[80][81] Hầu hết các ghế còn lại thuộc về các đảng chỉ tranh cử tại một bộ phận của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland như Đảng Dân tộc Scotland (chỉ tại Scotland) hay Plaid Cymru (chỉ tại Wales).

Chính quyền phân cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi quốc gia Scotland, Wales và Bắc Ireland có chính phủ hay cơ quan hành pháp riêng, do một Đệ nhất Bộ trưởng lãnh đạo, và một nghị viện nhất thể được phân quyền. Anh không có các cơ quan hành pháp hoặc lập pháp phân quyền như vậy và được chính phủ và quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland quản lý về hành pháp và tư pháp trực tiếp trong toàn bộ các sự vụ. Tình trạng này làm nổi lên vấn đề được gọi là West Lothian, là lo ngại rằng các thành viên quốc hội đến từ Scotland, Wales và Bắc Ireland có thể bỏ phiếu, đôi khi là mang tính quyết định,[82] đối với các vấn đề chỉ tác động đến Anh.[83] Ủy ban McKay báo cáo về vấn đề vào tháng 3 năm 2013 với đề nghị rằng các đạo luật chỉ tác động đến Anh cần phải nhận được sự ủng hộ của một đa số các thành viên Anh trong quốc hội.[84]

Chính phủ và Quốc hội Scotland có quyền lực trên quy mô lớn đối với bất kỳ vấn đề nào chưa được dành riêng một cách rõ ràng cho Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, gồm có giáo dục, y tế, luật Scot và chính quyền địa phương.[85] Chính phủ và Quốc hội Wales có quyền lực hạn chế hơn so với quyền lực được phân cho Scotland.[86] Cơ quan hành pháp và Nghị hội Bắc Ireland có các quyền lực tương tự như các quyền được phân cho Scotland.

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland không có hiến pháp thành văn và các vấn đề hiến pháp không nằm trong số các quyền lực được phân cấp cho Scotland, Wales hay Bắc Ireland. Theo học thuyết chủ quyền quốc hội, Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland theo lý thuyết có thể phế trừ Quốc hội Scotland, Nghị hội Wales hay Nghị hội Bắc Ireland.[87][88] Năm 1972, Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đơn phương đình chỉ Quốc hội Bắc Ireland, thiết lập một tiền lệ thích hợp trong việc giải quyết các cơ cấu phân cấp đương thời.[89] Trong thực tế, sẽ khó khăn về phương diện chính trị nếu Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland phế trừ phân quyền cho Quốc hội Scotland và Nghị hội Wales.[90] Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có các rằng buộc trong quyền cản trở phân quyền tại Bắc Ireland và điều này thậm chí còn lớn hơn so với Scotland và Wales, do phân quyền tại Bắc Ireland dựa trên một hiệp định quốc tế với Chính phủ Ireland.[91]

Pháp luật[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa án hoàng gia tư pháp của Anh và Wales

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland không có một hệ thống pháp luật đơn nhất, do Điều 19 của Hiệp định Liên hiệp năm 1706 cho phép Scotland duy trì hệ thống pháp luật riêng.[92] Ngày nay, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có ba hệ thống pháp luật riêng biệt: luật Anh, luật Bắc Ireland và luật Scot. Một Tòa án Tối cao mới xuất hiện vào tháng 10 năm 2009 nhằm thay thế Ủy ban Thượng tố của Quý tộc viện.[93][94] Ủy ban Tư pháp của Xu mật viện gồm các thành viên giống như của Tòa án Tối cao, là tòa thượng tố cấp cao nhất đối với một số quốc gia Thịnh vượng chung độc lập, các Lãnh thổ hải ngoại của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và các thuộc địa vương thất.[95]

Luật Anh (áp dụng tại Anh và Wales) và luật Bắc Ireland đều dựa theo các nguyên tắc thông luật.[96] Đứng đầu các tòa án tại Anh và Wales là Tòa án cấp cao của Anh và Wales, gồm Tòa án Thượng tố, Tòa án cấp cao tư pháp (đối với các vụ án dân sự), Tòa án vương thất (với các vụ án hình sự). Tòa án Tối cao là cấp cao nhất đối với các vụ thượng tố hình sự và dân sự tại Anh, Wales và Bắc Ireland và bất kỳ quyết định nào của tòa đều mang tính ràng buộc với các tòa án khác khác trong cùng quyền hạn, thường có một tác động thuyết phục đối với các phạm vi quyền hạn khác.[97]

Luật Scot là một hệ thống hỗn hợp dựa theo cả các nguyên tắc thông luật và dân luật. Các tòa án chủ yếu là Tòa án hội nghị đối với các vụ án dân sự,[98] và Tòa án cấp cao Tư pháp đối với các vụ án hình sự.[99] Tòa án Tối cao Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đóng vai trò là tòa thượng tố cấp cao nhất đối với các vụ án dân sự theo luật Scot.[100]

Quan hệ đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, là một thành viên của NATO, Thịnh vượng chung các Quốc gia, G7, G8, G20, OECD, WTO, Hội đồng châu Âu, OSCE, và Liên minh châu Âu. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được cho là có một "quan hệ đặc biệt" với Hoa Kỳ và một quan hệ đối tác mật thiết với Pháp, và chi sẻ công nghệ vũ khí hạt nhân với hai quốc gia này.[101][102] Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland cũng có liên kết mật thiết với Cộng hòa Ireland; hai quốc gia chia sẻ một khu vực du hành công cộng và hợp tác thông qua Hội nghị liên chính phủ Anh Quốc-Ireland và Hội đồng Anh Quốc-Ireland. Hiện diện và ảnh hưởng toàn cầu của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tiếp tục được khoách trương thông qua các quan hệ mậu dịch, đầu tư ngoại quốc, viện trợ phát triển chính thức và các cam kết quân sự.[103]

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Các lực lượng vũ trang Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được gọi chính thức là Quân đội của Nữ vương bệ hạ, gồm ba nhánh phục vụ chuyên nghiệp: Hải quân Hoàng gia Anh QuốcĐội Hải quân lục chiến Hoàng gia Anh Quốc (tạo thành lực lượng hải quân), Lục quân Anh QuốcKhông quân Hoàng gia Anh Quốc.[104] Các lực lượng do Bộ Quốc phòng quản lý và chịu sự chỉ huy của Hội đồng Quốc phòng do Quốc vụ khanh Quốc phòng chủ tọa. Tổng tư lệnh là quân chủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Elizabeth II, các thành viên trong quân đội phải tiến hành tuyên thệ trung thành với nhân vật này.[105] Quân đội chịu trách nhiệm bảo vệ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và các lãnh thổ hải ngoại của mình, xúc tiến các quan tâm an ninh toàn cầu của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và hỗ trợ các nỗ lực duy trì hòa bình quốc tế. Quân đội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một thành viên tích cực và thường xuyên trong NATO, cũng như các Hiệp định Phòng thủ Ngũ quốc, RIMPAC và các hoạt động liên hiệp toàn cầu khác. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland duy trì các doanh trại và căn cứ hải ngoại tại đảo Ascension, Belize, Brunei, Canada, Síp, Diego Garcia, quần đảo Falkland, Đức, Gibraltar, KenyaQatar.[106]

Quân đội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đóng một vị thế trọng yếu trong việc biến Đế quốc Anh thành một thế lực thống trị thế giới vào thế kỷ 18, 19 và đầu thế kỷ 20. Trong suốt lịch sử của mình, quân đội Anh Quốc hành động trong một số đại chiến như Chiến tranh Bảy năm, Các cuộc chiến tranh của Napoléon, Chiến tranh Krym, Chiến tranh thế giới thứ nhấtChiến tranh thế giới thứ hai—cũng như nhiều xung đột thuộc địa. Anh Quốc trở nên nổi bật sau thắng lợi từ những xung đột này, và thường có tư cách ảnh hưởng mang tính quyết định đến các sự kiện thế giới. Từ khi Đế quốc Anh kết thúc, chính sách quốc phòng là "các cuộc hành quân tối cần thiết" sẽ được tiến hành trong thành phần một liên minh.[107]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ địa hình Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland

Tổng diện tích của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland xấp xỉ 243.610 kilômét vuông (94.060 sq mi). Quốc gia chiếm phần lớn quần đảo Anh[108] và gồm đảo Anh, một phần sáu đông bắc của đảo Ireland và một số đảo nhỏ hơn xung quanh. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nằm giữa Bắc Đại Tây Dương và biển Bắc, bờ biển đông nam Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nằm cách bờ biển miền bắc Pháp trong vòng 22 dặm (35 km), cách nhau qua eo biển Manche.[109] Năm 1993, 10% diện tích Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có rừng che phủ, 46% được sử dụng làm bãi cỏ và 25% dùng để canh tác.[110] Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich tại Luân Đôn là điểm xác định của Kinh tuyến gốc.[111]

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nằm giữa các vĩ độ 49° và 61° B, và các kinh độ 9° T và 2° Đ. Bắc Ireland có biên giới trên bộ dài 224 dặm (360 km) với Cộng hòa Ireland.[109] Đường bờ biển của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland dài 11.073 dặm (17.820 km).[112] Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được liên kết với đại lục châu Âu thông qua Đường hầm eo biển Manche với chiều dài 31 dặm (50 km) (24 dặm (38 km) dưới biển), là đường hầm dưới nước dài nhất trên thế giới.[113]

Anh chiếm hơn một nửa tổng diện tích Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, với 130.395 kilômét vuông (50.350 sq mi).[114] Hầu hết Anh là địa hình đất thấp,[110] địa hình đồi núi nằm ở tây bắc của đường Tees-Exe; gồm dãy núi Cumbrian tại Lake District, Pennines và các đồi đá vôi tại Peak District, ExmoorDartmoor. Các sông và cửa sông chính là Thames, SevernHumber. Núi cao nhất Anh là Scafell Pike (978 mét (3.209 ft)) tại Lake District.[110]

Scotland chiếm gần một phần ba tổng diện tích Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, với 78.772 kilômét vuông (30.410 sq mi)[115] và bao gồm gần 800 đảo,[116] chủ yếu nằm tại phía tây và phía bắc của đại lục; đáng kể là các quần đảo Hebrids, OrkneyShetland. Địa hình Scotland được phân chia theo đứt đoạn ranh giới Highland cắt ngang Scotland từ Arran tại phía tây đến Stonehaven tại phía đông.[117] Đường đứt dãy phân chia thành hai khu vực khác biệt rõ ràng, mang tên Highland (Đất Cao) tại phía bắc và tây và Lowland (Đất Thấp) tại phía nam và đông. Khu vực Highland gồ ghề hơn và gồm phần lớn đất núi của Scotland, trong đó có Ben Nevis với độ cao 1.343 mét (4.406 ft) là điểm cao nhất tại quần đảo Anh.[118] Khu vực Lowland mà đặc biệt là eo đất hẹp nằm giữa vịnh Clyde và vịnh Forth mang tên Central Belt có địa hình bằng phẳng hơn và là nơi cư trú của hầu hết dân cư.

Ben Nevis tại Scotland là điểm cao nhất tại quần đảo Anh

Wales chiếm dưới một phần mười tổng diện tích của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, với 20.779 kilômét vuông (8.020 sq mi).[119] Địa hình Wales hầu hết là đồi núi, song miền nam có ít đồi núi hơn miền bắc và miền trung. Khu vực cư dân và công nghiệp chính nằm tại miền nam. Các núi cao nhất tại Wales nằm tại Snowdonia và gồm có Snowdon cao nhất Wales với độ cao 1.085 mét (3.560 ft).[110] Wales có 14 hoặc 15 núi cao hơn 3.000 feet (914 m). Wales có đường bờ biển dài 2.704 kilômét (1.680 dặm).[120]

Bắc Ireland tách biệt với đảo Anh qua biển Ireland và eo biển Bắc, có diện tích 14.160 kilômét vuông (5.470 sq mi) và hầu hết là đồi. Bắc Ireland có hồ lớn nhất quần đảo Anh là Lough Neagh với diện tích 388 kilômét vuông (150 sq mi).[121] Đỉnh cao nhất tại Bắc Ireland là Slieve Donard thuộc dãy núi Mourne với độ cao 852 mét (2.795 ft).[110]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có khí hậu ôn đới, lượng mưa dồi dào quanh năm.[109] Nhiệt độ biến hóa theo mùa, hiếm khí giảm xuống dưới −11 °C (12 °F) hoặc tăng trên 35 °C (95 °F).[122] Gió phổ biến thổi từ tây nam và mang theo thường xuyên các đợt thời tiết ôn hòa và mưa từ Đại Tây Dương,[109] song phần phía đông hầu như bị chắn gió do hầu hết mưa rơi tại các khu vực phía tây, phía đông do đó khô hơn. Các hải lưu Đại Tây Dương được Gulf Stream làm ấm và đem đến mùa đông ôn hòa; đặc biệt là tại phía tây nơi mà mùa đông có mưa nhất là tại vùng cao. Mùa hè ấm hơn tại khu vực đông nam của Anh, do là nơi nằm sát đại lục châu Âu nhất, và phía bắc là nơi mát nhất. Tuyết rơi dày có thể xuất hiện trong mùa đông và đầu mùa xuân tại những vùng cao.

Phân chia hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi quốc gia tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có hệ thống phân chia hành chính và địa lý riêng, thường có nguồn gốc từ trước khi thành lập Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Do đó, không có cấp bậc chung của đơn vị hành chính tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.[123] Cho đến thế kỷ 19, có ít biến hóa về những sắp xếp này, song kể từ đó có sự tiến triển liên tục về vai trò và nhiệm vụ.[124]

Tổ chức của chính quyền địa phương tại Anh có tính phức tạp, phân bổ trách nhiệm biến đổi theo sắp xếp địa phương. Pháp luật liên quan đến chính quyền địa phương tại Anh là trách nhiệm của quốc hội và chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, do Anh không có quốc hội riêng. Cấp hành chính cao nhất của Anh là 9 khu vực văn phòng chính phủ hoặc khu vực văn phòng chính phủ Liên minh châu Âu.[125] Một khu vực là Đại Luân Đôn có một hội đồng và thị trưởng được bầu trực tiếp từ năm 2000.[126] Theo dự định, các khu vực khác cũng sẽ được trao quyền bầu hội đồng khu vực của họ, song một đề xuất hội đồng tại khu vực Đông Bắc bị bác bỏ trong một cuộc trưng cầu dân ý vào năm 2004.[127] Bên dưới cấp khu vực, một số nơi của Anh có các hội đồng quận huyện và một số nơi khác có các cơ quan nhất thể; trong khi Luân Đôn gồm 32 quận và Thành phố Luân Đôn. Các hội viên của hội đồng được bầu theo thể thức đa số chế trong các phường có 1 thành viên hoặc theo thể chế đa số đa thành viên trong các phường có nhiều thành viên.[128]

Đối với mục đích chính quyền địa phương, Scotland được phân thành 32 khu vực hội đồng, với khác biệt lớn về cả kích thước và dân số. Các thành phố Glasgow, Edinburgh, AberdeenDundee là các khu vực hội đồng riêng biệt, trong khi Hội đồng Highland gồm một phần ba diện tích của Scotland song chỉ có trên 200.000 dân. Các hội đồng địa phương được hình thành từ các hội viên đắc cử;[129] họ được trả lương bán thời gian. Mỗi hội đồng bầu một Provost, hoặc Convenor, để chủ trì các cuộc họp của hội đồng và để đóng vai trò là nhân vật đứng đầu khu vực. Các hội viên hội đồng là đối tượng áp dụng của một quy tắc đạo đức do Ủy ban Tiêu chuẩn Scotland thi hành.[130]

Chính quyền địa phương tại Wales gồm 22 cơ quan nhất thể, gồm các thành phố Cardiff, Swansea và Newport.[131] Các cuộc bầu cử được tổ chức mỗi bốn năm theo thể thức đa số chế.[132] Hiệp hội chính quyền địa phương Wales đại diện cho quyền lợi của các chính quyền địa phương tại Wales.[133]

Chính quyền địa phương tại Bắc Ireland từ năm 1973 được tổ chức thành 26 hội đồng huyện, mỗi hội đồng được bầu theo thể thức khả chuyển nhượng đơn nhất. Quyền lực của họ bị hạn chế trong các dịch vụ như thu gom rác, kiểm soát chó và bảo vệ công viên và nghĩa địa.[134] Ngày 13 tháng 3 năm 2008, cơ quan hành pháp tán thành đề xuất thiết lập 11 hội đồng mới và thay thể hệ thống hiện tại.[135] Các cuộc bầu cử địa phương được hoãn cho đến năm 2016 nhằm phục vụ mục đích này.[136]

Lãnh thổ phụ thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Quang cảnh biển Caribe từ quần đảo Cayman, một trong những trung tâm tài chính[137] và địa điểm du lịch hàng đầu.[138]

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có chủ quyền với 17 lãnh thổ không phải là bộ phận của bản thân Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland: 14 lãnh thổ hải ngoại[139] và ba thuộc địa vương thất.[140]

14 lãnh thổ hải ngoại của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland gồm: Anguilla; Bermuda; Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh; Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Anh; Quần đảo Virgin thuộc Anh; Quần đảo Cayman; Quần đảo Falkland; Gibraltar; Montserrat; Saint Helena, Ascension và Tristan da Cunha; Quần đảo Turks và Caicos; Quần đảo Pitcairn; Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich; và Các khu vực chủ quyền tại Síp.[141] Tuyên bố chủ quyền của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tại châu Nam Cực không được công nhận phổ biến.[142] Tổng cộng, các lãnh thổ hải ngoại của Anh có diện tích đất liền 1.727.570 kilômét vuông (667.018 sq mi) và dân số xấp xỉ 260.000 người (2008).[143] Chúng là tàn dư của Đế quốc Anh và một vài lãnh thổ bỏ phiếu ủng hộ duy trì là lãnh thổ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (Bermuda năm 1995, Gibraltar năm 2002 và quần đảo Falkland năm 2013).[144]

Các thuộc địa vương thất thuộc sở hữu của quân chủ, ngược với các lãnh thổ hải ngoại.[145] Chúng gồm ba khu vực pháp lý được quản trị riêng biệt: JerseyGuernsey tại eo biển Manche, và đảo Man trên biển Ireland. Theo các hiệp định song phương, chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland quản lý sự vụ đối ngoại và quốc phòng của các đảo và Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có quyền lực lập pháp nhân danh họ. Tuy nhiên, trên phạm vi quốc tế, các lãnh thổ này được đề cập là "các lãnh thổ mà Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland chịu trách nhiệm".[146]

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ mật độ dân số Anh Quốc theo điều tra nhân khẩu 2011.

Một cuộc điều tra nhân khẩu được tiến hành đồng thời tại mọi khu vực của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland mỗi mười năm.[147] Cục Thống kê Quốc gia chịu trách nhiệm thu thập dữ liệu cho Anh và Wales, Tổng cục Hộ tịch Scotland và Cơ quan Thống kê và Nghiên cứu Bắc Ireland chịu trách nhiệm về điều tra tại quốc gia của họ.[148] Trong điều tra nhân khẩu năm 2011, tổng dân số Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là 63.181.775.[149] Đây là quốc gia đông dân thứ ba trong Liên minh châu Âu, thứ năm trong Thịnh vượng chung và đứng thứ 21 trên thế giới. 2010 là năm thứ ba liên tiếp biến động tự nhiên đóng góp vào tăng trưởng dân số nhiều hơn di cư quốc tế dài hạn thực.[150][150] Từ năm 2001 đến năm 2011, dân số Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tăng trưởng hàng năm với mức xấp xỉ 0,7%,[149] so với 0,3%/năm trong giai đoạn 1991-2001 và 0,2%/năm trong giai đoạn 1981-1991.[150] Điều tra nhân khẩu năm 2011 cũng xác thực rằng tỷ lệ dân số trong độ tuổi 0–14 giảm gần một nửa (31% năm 1911 so với 18% năm 2011) và tỷ lệ người gia từ 65 tuổi trở lên tăng gấp ba lần (từ 5% lên 16%).[149]

Dân số Anh trong năm 2011 là 53 triệu, chiếm khoảng 84%.[151] Đây là một trong các quốc gia có mật độ dân số dày đặc nhất trên thế giới với 383 người/km² vào giữa năm 2003,[152] đặc biệt tậm trung tại Luân Đôn và khu vực đông nam.[153] Điều tra nhân khẩu năm 2011 biểu thị dân số Scotland là 5,3 triệu,[154] Wales có 3,06 triệu dân và Bắc Ireland có 1,81 triệu dân.[151]

Năm 2012, tổng tỷ suất sinh trung bình toàn quốc là 1,92 trẻ/phụ nữ.[155] Mặc dù tỷ suất sinh gia tăng đóng góp vào tăng trưởng dân số hiện tại, song vẫn thấp hơn đáng kể so với mức đỉnh bùng nổ sinh sản 2,95 trẻ/phụ nữ vào năm 1964,[156] dưới mức thay thế là 2,1, song cao hơn mức thấp kỷ lục vào năm 2001 là 1,63.[155] Năm 2012, Scotland có tỷ suất sinh thấp nhất với chỉ 1,67, tiếp đến là Wales với 1,88, Anh với 1,94, và Bắc Ireland với 2,03.[155] Năm 2011, 47,3% ca sinh tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là của sản phụ chưa kết hôn.[157] Một số liệu của chính phủ ước tính rằng có 3,6 triệu người đồng tính luyến ái tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, chiếm 6% dân số.[158]

Dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ biểu thị tỷ lệ dân cư phi da trắng theo điều tra nhân khẩu năm 2011.
Dân tộc Dân số
2011
 %
2011
Da trắng 55,010,359 87,1
Da trắng: Ireland du cư 63.193 0,1
Á hoặc Anh gốc Á: Ấn Độ 1.451.862

2,3

Á hoặc Anh gốc Á: Pakistan 1.173.892

1,9

Á hoặc Anh gốc Á: Bangladesh 451.529

0,7

Á hoặc Anh gốc Á: Hoa 433.150

0,7

Á hoặc Anh gốc Á: Khác 861.815

1,4

Á hoặc Anh gốc Á: Tổng 4.373.339

7,0

Da đen hoặc Anh Da đen 1.904.684

3,0

Hỗn chủng 1.250.229

2,0

Khác: Tổng 580.374

0,9

Tổng[162] 63.182.178

100

Trên phương diện lịch sử, người Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland bản địa được cho là hậu duệ của các dân tộc khác nhau đến định cư tại đây từ trước thế kỷ 11: người Celt, La Mã, Anglo-Saxon, Norse và Norman. Người Wales có thể là dân tộc cổ xưa nhất tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.[163] Một nghiên cứu di truyền học vào năm 2006 biểu thị rằng hơn 50% nguồn gen của Anh có chứa các nhiễm sắc thể Y Germain.[164] Phân tích di truyền khác vào năm 2005 biểu thị rằng "khoảng 75% tổ tiên truy nguyên của cư dân Anh Quốc hiện đại đến quần đảo Anh vào khoảng 6.200 năm trước, lúc khởi đầu thời kỳ đồ đá mới hoặc đồ đá Anh", và rằng chia sẻ phổ biến một tổ tiên chung với người Basque.[165][166][167]

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có một lịch sử nhập cư phi da trắng quy mô nhỏ, Liverpool có dân cư da đen xưa nhất trong toàn quốc với ít nhất là từ thập niên 1730 trong thời kỳ mua bán nô lệ châu Phi,[168] và cộng đồng người Hoa xưa nhất tại châu Âu bắt đầu khi thủy thủ người Hoa đến vào thế kỷ 19.[169] Năm 1950, có thể có ít hơn 20.000 cư dân phi da trắng tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, hầu hết được sinh tại hải ngoại.[170]

Từ năm 1948, diễn ra nhập cư đáng kể từ châu Phi, khu vực Caribe và Nam Á, là di sản liên kết được thiết lập từ Đế quốc Anh. Nhập cư từ các quốc gia thành viên mới trong EU tại Trung và Đông Âu từ năm 2004 dẫn đến tăng trưởng dân số của các nhóm này tuy nhiên, (tính đến 2008), xu hướng bị đảo chiều. Nhiều trong số những người nhập cư này trở về tổ quốc của họ, khiến không rõ về quy mô các nhóm này.[171]

Tính đa dạng dân tộc thay đổi đáng kể trên khắp Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. 30,4% cư dân Luân Đôn và 37,4% cư dân Leicester được ước tính không phải là người da trắng (in 2005),[172][173] trong khi đó dưới 5% cư dân Đông Bắc Anh, Wales và Tây Nam Anh đến từ các nhóm thiểu số theo điều tra nhân khẩu năm 2001.[174] (Năm 2011), 26,5% số học sinh tiểu học và trung học trong các trường công tại Anh là thành viên của một dân tộc thiểu số.[175]

Dân số phi da trắng của Anh và Wales tăng 38% từ 6,6 triệu năm 2001 lên 9,1 triệu vào năm 2009.[176] Nhóm tăng trưởng nhanh nhất là cư dân hỗn chủng, tăng từ 672.000 vào năm 2001 lên 986.600 vào năm 2009. Cũng trong giai đoạn này, người Anh Quốc da trắng duy giảm 36.000.[177]

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Thế giới Anh ngữ. Các quốc gia xanh đậm có đa số cư dân nói tiếng Anh bản ngữ; các quốc gia mà tiếng Anh là một ngôn ngữ chính thức song không phải là một ngôn ngữ đa số được thể hiện màu xanh nhạt. Tiếng Anh là một ngôn ngữ chính thức của Liên minh châu Âu[178] và Liên Hiệp Quốc[179]

Ngôn ngữ chính thức trên thực tế của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là tiếng Anh.[180][181] Theo ước tính, 95% cư dân Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đơn ngữ tiếng Anh.[182] 5,5% cư dân được ước tính là nói các ngôn ngữ được đưa đến Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland như là kết quả của nhập cư tương đối gần đây.[182] Các ngôn ngữ Nam Á, gồm Bengal, Tamil, Punjab, HindiGujarat, là các nhóm lớn nhất và được 2,7% cư dân Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nói.[182] Theo điều tra nhân khẩu năm 2011, tiếng Ba Lan trở thành ngôn ngữ được nói nhiều thứ hai tại Anh và có 546.000 người nói.[183]

Bốn ngôn ngữ Celt được nói tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland: tiếng Wales; tiếng Ireland; tiếng Gael Scotland; và tiếng Cornwall. Tất cả đều được công nhận là các ngôn ngữ khu vực hoặc thiểu số, là chủ thể của các biện pháp cụ thể nhằm bảo vệ và xúc tiến theo Công ước châu Âu về các ngôn ngữ khu vực và thiểu số[184] và Công ước khung về bảo vệ các dân tộc thiểu số.[185] Theo điều tra nhân khẩu năm 2001, hơn một phần năm (21%) cư dân Wales nói là họ có thể nói tiếng Wales,[186] tăng so với điều tra nhân khẩu năm 1991 (18%).[187] Ngoài ra, ước tính có khoảng 200.000 người nói tiếng Wales sống tại Anh.[188] Trong cuộc điều tra nhân khẩu này, tại Bắc Ireland có 167.487 người (10,4%) nói rằng họ có "một số kiến thức về tiếng Ireland", hầu như đều là trong cộng đồng dân cư dân tộc chủ nghĩa (chủ yếu là Công giáo). Trên 92.000 người tại Scotland (dưới 2%) có một số năng lực ngôn ngữ Gael, cao nhất là tại Ngoại Hebrides.[189] Số học sinh được dạy bằng tiếng Wales, Gael Scotland và Ireland gia tăng.[190] Tiếng Scot là một ngôn ngữ có nguồn gốc từ tiềng Anh Trung đại miền bắc thời kỳ đầu, được công nhận hạn chế với tư cách biến thể khu vực, tiếng Scot Ulster tại Bắc Ireland không có cam kết cụ thể nhằm bảo vệ và xúc tiến.[191]

Học sinh đến 14 tuổi tại Anh bắt buộc phải học một ngôn ngữ thứ hai,[192] tại Scotland là đến 16 tuổi. Tiếng Pháptiếng Đức là ngôn ngữ thứ hai được giảng dạy phổ biến nhất tại Anh và Scotland. Toàn bộ học sinh tại Wales được dạy tiếng Wales như ngôn ngữ thứ hai cho đến năm 16 tuổi, hoặc được giảng dạy bằng tiếng Wales.[193]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tu viện Westminster được sử dụng làm nơi đăng quang của các quân chủ Anh Quốc

Các giáo phái Cơ Đốc chi phối sinh hoạt tôn giáo tại khu vực nay là Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland từ hơn 1.400 năm nay.[194] Mặc dù đa số công dân vẫn gắn bó với Cơ Đốc giáo trong nhiều nghiên cứu, song số người dự lễ trong nhà thờ giảm đi đáng kể từ giữa thế kỷ 20,[195] trong khi nhập cư và biến đổi nhân khẩu học góp phần vào sự phát triển của các tín ngưỡng khác, đáng chú ý nhất là Hồi giáo.[196] Tình hình này khiến một số nhà bình luận có các mô tả khác nhau về Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland như xã hội đa tín ngưỡng,[197] thế tục hóa,[198] hoặc hậu Cơ Đốc.[199]

Trong điều tra nhân khẩu 2001, 71,6% tổng số người trả lời biểu thị rằng họ là tín đồ Cơ Đốc giáo, các tôn giáo lớn tiếp theo là Hồi giáo (2,8%), Ấn Độ giáo (1,0%), Sikh giáo (0,6%), Do Thái giáo (0,5%), Phật giáo (0,3%).[200] 15% số người trả lời biểu thị rằng họ không theo tôn giáo nào, và thêm 7% không trả lời về tôn giáo.[201] So sánh các điều tra nhân khẩu năm 2001 và 2011, số người nhận là tín đồ Cơ Đốc giáo giảm 12%, trong khi tỷ lệ của những người trả lời không liên kết tôn giáo tăng gấp đôi. Điều này trái ngược với sự tăng trưởng của các nhóm tôn giáo chính khác, khi số lượng tín đồ Hồi giáo tăng khoảng 5%.[202]

Giáo hội Anh là quốc giáo tại Anh.[203] Giáo hội duy trì đại diện trong Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và quân chủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là lãnh tụ tối cao.[204] Tại Scotland, Giáo hội Scotland Trưởng Lão được công nhận là giáo hội quốc gia. Giáo hội Scotland không phải đối tượng chịu sự kiểm soát nhà nước, và quân chủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một thành viên thông thường, được yêu cầu tuyên thệ "duy trì và bảo tồn tôn giáo Tin Lành và chính thể giáo hội Trưởng Lão" khi đăng cơ.[205][206] Giáo hội Anh giáo Wales bị bãi bỏ vào năm 1920, Giáo hội Anh giáo Ireland bị bãi bỏ vào năm 1870 trước khi đảo bị phân chia, do đó không thiết lập giáo hội tại Bắc Ireland.[207] Mặc dù không có dữ liệu toàn Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trong điều tra nhân khẩu 2001 về liên kết của cá nhân với các giáo phái Cơ Đốc, song có ước tính rằng 62% tín đồ Cơ Đốc theo Anh giáo, 13,5% theo Công giáo, 6% theo Trưởng Lão, 3,4% theo Giám Lý cùng số lượng nhỏ theo các giáo phái Tin Lành khác, và Chính Thống giáo Đông phương.[208]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Học viện King's là bộ phận của Đại học Cambridge hình thành vào năm 1209

Giáo dục tại Anh là trách nhiệm của Bộ trưởng Giáo dục Vương quốc Liên hiệp, song quản lý thường ngày và tài trợ cho các trường công là trách nhiệm của chính quyền địa phương.[209] Giáo dục công miễn phí được tiến hành dần dần từ năm 1870 đến năm 1944.[210][211] Giáo dục nay là bắt buộc trong độ tuổi từ 5 đến 16 (15 nếu sinh vào cuối tháng 7 hoặc tháng 8). Năm 2011, TIMSS xếp hạng các học sinh 13–14 tuổi tại Anh và Wales thứ 10 thế giới về toán và thứ 9 về khoa học.[212] Năm 2010, trên 45% chỉ tiêu tại Đại học Oxford và 40% tại Đại học Cambridge thuộc về các sinh viên đến từ các trường tư thục, dù chỉ chiếm 7% số học sinh phổ thông.[213] Anh có hai đại học cổ nhất trong thế giới Anh ngữ, đó là Đại học Oxford và Đại học Cambridge, với lịch sử trên tám thế kỷ. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có 9 trường đại học nằm trong nhóm 100 đại học hàng đầu theo xếp hạng của Times Higher Education năm 2013, số lượng chỉ đứng thứ hai sau Hoa Kỳ.[214]

Giáo dục tại Scotland là trách nhiệm của Bộ trưởng Nội các về Giáo dục và Học tập suốt đời, quản lý thường ngày và tài trợ cho các trường công là trách nhiệm của chính quyền địa phương. Hai cơ cấu công cộng không ngang cấp bộ đóng vai trò trọng yếu trong giáo dục Scotland: Cơ quan Tư cách Scotland,[215] Cơ quan Học tậpv à Giảng dạy Scotland.[216] Scotland lần đầu tiên pháp luật hóa giáo dục bắt buộc vào năm 1496.[217] Tỷ lệ trẻ tại Scotland theo học trường tư là trên 4%, tăng chậm trong những năm gần đây.[218] Sinh viên Scotland theo học tại các trường đại học Scotland sẽ không phải trả học phí hay trách nhiệm hiến tặng tốt nghiệp, do các khoản phí bị bãi bỏ vào năm 2001 và trách nhiệm hiến tặng tốt nghiệp bị bãi bỏ vào năm 2008.[219]

Chính phủ Wales chịu trách nhiệm về giáo dục tại Wales. Một số lượng đáng kể học sinh Wales được giảng dạy hoàn toàn hoặc ở mức độ lớn bằng tiếng Wales; các bài học bằng tiếng Wales là bắt buộc đối với toàn bộ học sinh cho đến tuổi 16.[220]

Giáo dục tại Bắc Ireland là trách nhiệm của Bộ trưởng Giáo dục Bắc Ireland và Bộ trưởng Công việc và Học tập, song trách nhiệm nằm tại cấp địa phương trong việc quản lý. Hội đồng Khóa trình, Khảo thí và Đánh giá (CCEA) là cơ cấu chịu trách nhiệm cố vấn cho chính phủ về những kiến thức nên được giảng dạy trong các trường học Bắc Ireland, kiểm định tiêu chuẩn và công nhận trình độ.[221]

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Y tế tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một vấn đề được phân cấp và mỗi quốc gia có hệ thống riêng về chăm sóc sức khỏe tư nhân và công cộng, cùng với các phương pháp điều trị thay thế, toàn diện, và bổ sung. Y tế công cộng được cung cấp cho toàn bộ cư dân thường trú tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và hầu hết là miễn phí tại điểm cần thiết, được trả từ thuê chung. Tổ chức Y tế Thế giới vào năm 2000 xếp hạng dự phòng y tế tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tốt thứ 15 tại châu Âu và đứng thứ 18 trên thế giới.[222][223]

Các cơ quan quản lý được tổ chức trên cơ sở toàn Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland như Tổng hội Y khoa, Hội đồng Hộ lý và Trợ sản và các cơ quan có cơ sở phi chính phủ như Royal College. Truy nhiên, trách nhiệm chính trị và hoạt động y tế thuộc về cơ quan hành pháp của bốn quốc gia; y tế tại Anh là trách nhiệm của chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland; y tế tại Bắc Ireland là trách nhiệm của cơ quan hành pháp Bắc Ireland; y tế tại Scotland là trách nhiệm của chính phủ Scotland; và y tế tại Wales là trách nhiệm của chính phủ hội đồng Wales. Mỗi dịch vụ thế tế quốc dân có các chính sách và ưu tiên khác nhau, dẫn đến các tương phản.[224][225]

Kể từ năm 1979, chi tiêu cho y tế gia tăng đáng kể, đạt gần hơn tới mức bình quân của Liên minh châu Âu.[226] Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland chi tiêu khoảng 8,4% tổng thu nhập nội địa cho y tế, thấp hơn 0,5% so với mức trung bình của OECD và thấp hơn khoảng 1% so với mức trung bình của Liên minh châu Âu.[227]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngân hàng Anh là ngân hàng trung ương của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có một nền kinh tế thị trường chịu kiểm soát cục bộ.[228] Dựa theo tỷ giá hối đoái thị trường, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland hiện là nền kinh tế lớn thứ sáu trên thế giới và lớn thứ ba tại châu Âu sau Đức và Pháp.[229] Bộ Ngân khố Nữ vương bệ hạ (HM Treasury) chịu trách nhiệm phát triển và thi hành các chính sách tài chính công và chính sách kinh tế của chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Ngân hàng Anh là ngân hàng trung ương của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và chịu trách nhiệm phát hành giấy bạc và tiền đồng bảng Anh. Bảng Anh là tiền tệ dự trữ lớn thứ ba thế giới (sau Dollar Mỹ và Euro).[230] Kể từ năm 1997, Ủy ban Chính sách Tiền tệ của Ngân hàng Anh chịu trách nhiệm thiết lập lãi suất ở mức độ cần thiết nhằm đạt được mục tiêu lạm phát tổng thể do Bộ trưởng Tài chính xác định.[231]

Lĩnh vực dịch vụ chiếm khoảng 73% GDP của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (2006).[232] Luân Đôn là một trong ba "trung tâm chỉ huy" của kinh tế toàn cầu (cùng với New York và Tokyo),[233] là trung tâm tài chính lớn nhất thế giới cùng New York,[234][235][236] và là thành phố có GDP lớn nhất tại châu Âu.[237] Du lịch là một ngành rất quan trọng đối với kinh tế Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland với trên 27 du khách năm 2004, là địa điểm du lịch hàng đầu thế giới và Luân Đôn là thành phố có nhiều du khách quốc tế nhất trên thế giới.[238][239] Các ngành công nghiệp sáng tạo chiếm 7% GVA vào năm 2005 và trăng trưởng 6% mỗi năm trong giai đoạn từ 1997 đền 2005.[240]

Cách mạng công nghiệp khởi đầu tại Anh Quốc với tập trung ban đầu vào ngành công nghiệp dệt may,[241] tiếp đến là các ngành công nghiệp nặng khác như đóng tàu, khai thác than, và sản xuất thép.[242][243] Đế quốc Anh được sử dụng làm một thị trường hải ngoại cho hàng hóa Anh Quốc, cho phép Anh Quốc chi phối mậu dịch quốc tế trong thế kỷ 19. Giống như các quốc gia công nghiệp hóa khác, với sự suy giảm kinh tế sau hai thế chiến, Anh Quốc bắt đầu mất lợi thế cạnh tranh và công nghiệp nặng suy giảm theo thứ bậc trong suốt thế kỷ 20. Chế tạo vẫn là bộ phận quan trọng trong kinh tế song chỉ chiếm 16,7% sản phẩm quốc gia vào năm 2003.[244]

Ngành công nghiệp ô tô là một bộ phận quan trọng trong lĩnh vực chế tạo của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, tạo công việc cho hơn 800.000 người, với doanh thu khoảng 52 tỷ bảng (2011).[245] Ngành công nghiệp hàng không vũ trụ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland lớn thứ nhì hoặc thứ ba thế giới tùy theo cách thức tính. Ngành công nghiệp dược phẩm đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, quốc gia này có tỷ lệ chi tiêu dược khoa R&D cao thứ ba toàn cầu (sau Hoa Kỳ và Nhật Bản).[246][247]

Nông nghiệp Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có đặc điểm thâm canh, cơ giới hóa cao độ, và có hiệu quả theo tiêu chuẩn châu Âu, sản xuất khoảng 50% thực phẩm cần thiết với ít hơn 1,6% lực lượng lao động.[248]

Thành phố Luân Đôn là trung tâm tài chính lớn nhất thế giới cùng New York[234][235][236]

Trong quý cuối cùng của năm 2008, kinh tế Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland chính thức bước vào suy thoái lần đầu tiên kể từ năm 1991.[249] Tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 5,2% trong tháng 5 năm 2008 lên 7,6% trong tháng 5 năm 2009 và đến tháng 1 năm 2012 thì tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm tuổi 18 đến 24 năm tăng từ 11,9% lên 22,5%, mức cao nhất từ 1992.[250][251] Tổng nợ chính phủ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tăng từ 44,4% vào năm 2007 lên 82,9% GDP vào năm 2011.[252]

Năm 2006, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là nước tiêu thụ lớn thứ chín và nước sản xuất lớn thứ 15 trên thị trường năng lượng thế giới.[253] Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là nơi đặt trụ sở của một số công ty năng lượng lớn, trong đó có BP, Royal Dutch ShellBG Group.[254][255] Năm 2011, 40% điện năng của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được sản xuất bằng khí đốt, 30% bằng than đá, 19% bằng năng lượng hạt nhân, và 4,2% bằng gió, hydro, nhiên liệu sinh học, và chất thải.[256]

Lương điều chỉnh lạm phát tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland giảm 3,2% từ quý thứ ba của năm 2010 đến quý thứ ba của năm 2012.[257] Kể từ thập niên 1980, bất bình đẳng kinh tế tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tăng nhanh nhất trong số các quốc gia phát triển.[258]

Chuẩn nghèo tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thường được định nghĩa là 60% thu nhập hộ gia đình trung bình. Năm 2007–2008, 13,5 triệu người hay 22% dân số sống dưới mức này. Đây là một mức nghèo tương đối cao thứ 5 trong Liên minh châu Âu.[259] Trong cùng năm, 4,0 triệu trẻ em, tương đương 31%, sống trong các hộ gia đình sống dưới mức nghèo sau khi tính cả chi phí nhà ở, giảm 400.000 trẻ trong năm 1998–1999.[260] Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nhật khẩu 40% cung cấp thực phẩm.[261]

Khoa học và Công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Charles Darwin (1809–82), học thuyết tiến hóa theo chọn lọc tự nhiên của ông là nền tảng cho khoa học sinh học hiện đại

Anh và Scotland là các trung tâm hàng đầu trong Cách mạng khoa học từ thế kỷ 17[262] và Anh Quốc dẫn đầu Cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 18,[241] và liên tục sản sinh các nhà khoa học và kỹ sư có danh tiếng với những tiến bộ quan trọng.[263] Các nhà lý luận lớn từ thế kỷ 17 và 18 bao gồm Isaac Newton, các định luật về chuyển động và sự khai sáng về trọng lực của ông được xem là một nền tảng của khoa học hiện đại;[264] từ thế kỷ 19 Charles Darwin với thuyết tiến hóa theo chọn lọc tự nhiên là nền tảng cho sự phát triển của sinh học hiện đại, và James Clerk Maxwell với việc công thức hóa tuyết điện tử học kinh điển; và gần đây hơn là Stephen Hawking, người đã nâng cấp nhiều học thuyết chủ yếu trong các lĩnh vực vũ trụ học, hấp dẫn lượng tử và nghiên cứu lỗ đen.[265] Các khám phá khoa học lớn từ thế kỷ 18 gồm có hydro bởi Henry Cavendish;[266] từ thế kỷ 20 là penicillin bởi Alexander Fleming,[267] và cấu trúc ADN bởi Francis Crick và những người khác.[268] Các công trình và ứng dụng kỹ thuật chính của người Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trong thế kỷ 18 gồm có đầu máy hơi nước được phát triển bởi Richard TrevithickAndrew Vivian;[269] từ thế kỷ 19 là động cơ điện bởi Michael Faraday, đèn sợi đốt bởi Joseph Swan,[270] và điện thoại thực tiễn đầu tiên là phát minh của Alexander Graham Bell;[271] và trong thế kỷ 20 là hệ thống truyền hình hoạt động đầu tiên của thế giới bởi John Logie Baird và những người khác,[272] động cơ phản lực bởi Frank Whittle, cơ sở của máy điện toán hiện đại bởi Alan Turing, và World Wide Web bởi Tim Berners-Lee.[273]

Nghiên cứu và phát triển khoa học duy trì vị thế quan trọng trong các đại học Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, nhiều trường thành lập các công viên khoa học nhằm tạo điều kiện sản xuất và hợp tác với công nghiệp.[274] Từ năm 2004 đến năm 2008, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland sản xuất 7% bài báo nghiên cứu khoa học của thế giới và 8% trích dẫn khoa học, cao thứ ba và thứ hai thế giới (lần lượt sau Hoa Kỳ và Trung Quốc, và Hoa Kỳ).[275] Các tạp chí khoa học xuất bản tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland gồm có Nature, British Medical Journal and The Lancet.[276]

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa nhà ga số 5 của Sân bay London Heathrow, sân bay này có lưu lượng hành khách quốc tế cao nhất thế giới.[277][278]

Một mạng lưới đường bộ xuyên tâm có 29.145 dặm (46.904 km) đường chính, 2.173 dặm (3.497 km) đường cao tốc và 213.750 dặm (344.000 km) đường trải nhựa.[109] Năm 2009, có tổng cộng 34 triệu xe được đăng ký tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.[279]

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có một mạng lưới đường sắt dài 10.072 dặm (16.209 km) tại đảo Anh 189 dặm (304 km) tại Bắc Ireland. Đường sắt tại Bắc Ireland do NI Railways điều hành, đây là một công ty con của công ty quốc doanh Translink. Trên đảo Anh, mạng lưới đường sắt được tư hữu hóa từ năm 1994 đến năm 1997. Network Rail sở hữu và quản lý hầu hết các tài sản cố định như đường ray. Khoảng 20 công ty đường sắt thuộc sở hữu tư nhân hoạt động chuyên chở hành khách và chở trên 18.000 đoàn tàu hành khách mỗi ngày. Mỗi ngày cũng có khoảng 1.000ddaonf tàu chở hàng hoạt động.[109]

Từ tháng 10 năm 2009 đến tháng 9 năm 2010, các sân bay Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có tổng cộng 211,4 triệu hành khách thông qua.[280] Trong giai đoạn này, ba sân bay lớn nhất là Sân bay London Heathrow (65,6 triệu hành khách), Sân bay Gatwick (31,5 triệu hành khách) và Sân bay London Stansted (18,9 triệu hành khách).[280] Sân bay London Heathrow tọa lạc cách 15 dặm (24 km) về phía tây của thủ đô, có lưu lượng hành khách quốc tế cao nhất trên toàn cầu[277][278] và là trung tâm của British Airways, cũng như của BMIVirgin Atlantic.[281]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mặc dù Bắc Ireland là bộ phận duy nhất của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có một biên giới trên bộ với hai quốc gia khác, hai lãnh thổ hải ngoại của nó cũng có biên giới trên bộ với các quốc gia khác. Gibraltar có biên giới trên bộ với Tây Ban Nha, còn Khu vực căn cứ chủ quyền Akrotiri và Dhekelia có biên giới với Cộng hòa Síp, Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ Bắc Síp, và khu vực đệm Liên Hiệp Quốc chia tách hai thực thể trên đảo.
  2. ^ Hiệp định Anh-Ireland được ký kết vào ngày 6 tháng 12 năm 1921 nhằm giải quyết Chiến tranh Độc lập Ireland. Có hiệu lực vào một năm sau, hiệp định thiết lập Quốc gia Tự do Ireland là một quốc gia tự trị riêng biệt trong Thịnh vượng chung. Tên hiện tại của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được thông qua vào năm 1927 nhằm phản ánh biến đổi này.
  3. ^ New Zealand, Israel và San Marino là các quốc gia khác có hiến pháp bất thành văn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Population Estimates for UK, England and Wales, Scotland and Northern Ireland, Mid-2013”. Office for National Statistics. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ “2011 UK censuses”. Office for National Statistics. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2012. 
  3. ^ a ă â b “United Kingdom”. International Monetary Fund. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2014. 
  4. ^ The British Monarchy, What is constitutional monarchy?. Retrieved 17 July 2013
  5. ^ CIA, The World Factbook. Retrieved 17 July 2013
  6. ^ “The World Factbook”. Central Intelligence Agency. 1 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2014. 
  7. ^ “Countries within a country”. Prime Minister's Office. 10 tháng 1 năm 2003. 
  8. ^ a ă “Devolution of powers to Scotland, Wales, and Northern Ireland”. United Kingdom Government. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2013. “In a similar way to how the government is formed from members from the two Houses of Parliament, members of the devolved legislatures nominate ministers from among themselves to comprise an executive, known as the devolved administrations...” 
  9. ^ “Key facts about the United Kingdom”. Directgov. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2011. “The full title of this country is 'the United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland'. 'The UK' is made up of England, Scotland, Wales and Northern Ireland. 'Britain' is used informally, usually meaning the United Kingdom. 'Great Britain' is made up of England, Scotland and Wales. The Channel Islands and the Isle of Man are not part of the UK.” [liên kết hỏng]
  10. ^ “Working with Overseas Territories”. Foreign and Commonwealth Office. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2011. 
  11. ^ Mathias, P. (2001). The First Industrial Nation: the Economic History of Britain, 1700–1914. London: Routledge. ISBN 0-415-26672-6. 
  12. ^ Ferguson, Niall (2004). Empire: The rise and demise of the British world order and the lessons for global power. New York: Basic Books. ISBN 0-465-02328-2. 
  13. ^ Sheridan, Greg (15 tháng 5 năm 2010). “Cameron has chance to make UK great again”. The Australian (Sydney). Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2011. 
  14. ^ Dugan, Emily (18 tháng 11 năm 2012). “Britain is now most powerful nation on earth”. The Independent (London). Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  15. ^ “The 15 countries with the highest military expenditure in 2013 (table)” (PDF). Stockholm International Peace Research Institute. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2014. 
  16. ^ The Military Balance 2014: Top 15 Defence Budgets 2013 (IISS)
  17. ^ "Ancient skeleton was 'even older'". BBC News. 30 October 2007. Retrieved 27 April 2011.
  18. ^ Koch, John T. (2006). Celtic culture: A historical encyclopedia. Santa Barbara, CA: ABC-CLIO. tr. 973. ISBN 978-1-85109-440-0. 
  19. ^ Davies, John; Jenkins, Nigel; Baines, Menna; Lynch, Peredur I. biên tập (2008). The Welsh Academy Encyclopaedia of Wales. Cardiff: University of Wales Press. tr. 915. ISBN 978-0-7083-1953-6. 
  20. ^ “Short Athelstan biography”. BBC History. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  21. ^ Mackie, J.D. (1991). A History of Scotland. London: Penguin. tr. 18–19. ISBN 978-0-14-013649-4. 
  22. ^ Campbell, Ewan (1999). Saints and Sea-kings: The First Kingdom of the Scots. Edinburgh: Canongate. tr. 8–15. ISBN 0-86241-874-7. 
  23. ^ Haigh, Christopher (1990). The Cambridge Historical Encyclopedia of Great Britain and Ireland. Cambridge University Press. tr. 30. ISBN 978-0-521-39552-6. 
  24. ^ Ganshof, F.L. (1996). Feudalism. University of Toronto. tr. 165. ISBN 978-0-8020-7158-3. 
  25. ^ Chibnall, Marjorie (1999). The debate on the Norman Conquest. Manchester University Press. tr. 115–122. ISBN 978-0-7190-4913-2. 
  26. ^ Keen, Maurice. "The Hundred Years War". BBC History.
  27. ^ The Reformation in England and ScotlandIreland: The Reformation Period & Ireland under Elizabth I, Encyclopædia Britannica Online.
  28. ^ “British History in Depth – Wales under the Tudors”. BBC History. 5 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2010. 
  29. ^ Nicholls, Mark (1999). A history of the modern British Isles, 1529–1603: The two kingdoms. Oxford: Blackwell. tr. 171–172. ISBN 978-0-631-19334-0. 
  30. ^ Canny, Nicholas P. (2003). Making Ireland British, 1580–1650. Oxford University Press. tr. 189–200. ISBN 978-0-19-925905-2. 
  31. ^ Ross, D. (2002). Chronology of Scottish History. Glasgow: Geddes & Grosset. p. 56. ISBN 1-85534-380-0
  32. ^ Hearn, J. (2002). Claiming Scotland: National Identity and Liberal Culture. Edinburgh University Press. p. 104. ISBN 1-902930-16-9
  33. ^ “English Civil Wars”. Encyclopaedia Britannica. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  34. ^ “Scotland and the Commonwealth: 1651–1660”. Archontology.org. 14 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2010. 
  35. ^ Lodge, Richard (2007) [1910]. The History of England – From the Restoration to the Death of William III (1660–1702). Read Books. tr. 8. ISBN 978-1-4067-0897-4. 
  36. ^ “Tudor Period and the Birth of a Regular Navy”. Royal Navy History. Institute of Naval History. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2010. [liên kết hỏng]
  37. ^ Canny, Nicholas (1998). The Origins of Empire, The Oxford History of the British Empire Volume I. Oxford University Press. ISBN 0-19-924676-9. 
  38. ^ “Articles of Union with Scotland 1707”. UK Parliament. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2008. 
  39. ^ “Acts of Union 1707”. UK Parliament. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2011. 
  40. ^ “Treaty (act) of Union 1706”. Scottish History online. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  41. ^ Library of Congress, The Impact of the American Revolution Abroad, p. 73.
  42. ^ “The Act of Union”. Act of Union Virtual Library. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2006. 
  43. ^ Tellier, L.-N. (2009). Urban World History: an Economic and Geographical Perspective. Quebec: PUQ. p. 463. ISBN 2-7605-1588-5.
  44. ^ Sondhaus, L. (2004). Navies in Modern World History. London: Reaktion Books. p. 9. ISBN 1-86189-202-0.
  45. ^ Porter, Andrew (1998). The Nineteenth Century, The Oxford History of the British Empire Volume III. Oxford University Press. tr. 332. ISBN 0-19-924678-5. 
  46. ^ “The Workshop of the World”. BBC History. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  47. ^ Porter, Andrew (1998). The Nineteenth Century, The Oxford History of the British Empire Volume III. Oxford University Press. tr. 8. ISBN 0-19-924678-5. 
  48. ^ Marshall, P.J. (1996). The Cambridge Illustrated History of the British Empire. Cambridge University Press. tr. 156–57. ISBN 0-521-00254-0. 
  49. ^ Tompson, Richard S. (2003). Great Britain: a reference guide from the Renaissance to the present. New York: Facts on File. tr. 63. ISBN 978-0-8160-4474-0. 
  50. ^ Hosch, William L. (2009). World War I: People, Politics, and Power. America at War. New York: Britannica Educational Publishing. tr. 21. ISBN 978-1-61530-048-8. 
  51. ^ Turner, John (1988). Britain and the First World War. London: Unwin Hyman. pp. 22–35. ISBN 978-0-04-445109-9.
  52. ^ a ă Westwell, I.; Cove, D. (eds) (2002). History of World War I, Volume 3. London: Marshall Cavendish. pp. 698 and 705. ISBN 0-7614-7231-2.
  53. ^ Turner, J. (1988). Britain and the First World War. Abingdon: Routledge. p. 41. ISBN 0-04-445109-1.
  54. ^ SR&O 1921, No. 533 of 3 May 1921.
  55. ^ “The Anglo-Irish Treaty, 6 December 1921”. CAIN. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2006. 
  56. ^ Rubinstein, W. D. (2004). Capitalism, Culture, and Decline in Britain, 1750–1990. Abingdon: Routledge. p. 11. ISBN 0-415-03719-0.
  57. ^ “Britain to make its final payment on World War II loan from U.S.”. The New York Times. 28 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2011. 
  58. ^ Francis, Martin (1997). Ideas and policies under Labour, 1945–1951: Building a new Britain. Manchester University Press. tr. 225–233. ISBN 978-0-7190-4833-3. 
  59. ^ Lee, Stephen J. (1996). Aspects of British political history, 1914–1995. London; New York: Routledge. tr. 173–199. ISBN 978-0-415-13103-2. 
  60. ^ Larres, Klaus (2009). A companion to Europe since 1945. Chichester: Wiley-Blackwell. tr. 118. ISBN 978-1-4051-0612-2. 
  61. ^ “Country List”. Commonwealth Secretariat. 19 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2012. [liên kết hỏng]
  62. ^ Julios, Christina (2008). Contemporary British identity: English language, migrants, and public discourse. Studies in migration and diaspora. Aldershot: Ashgate. tr. 84. ISBN 978-0-7546-7158-9. 
  63. ^ Aughey, Arthur (2005). The Politics of Northern Ireland: Beyond the Belfast Agreement. London: Routledge. tr. 7. ISBN 978-0-415-32788-6. 
  64. ^ "The troubles were over, but the killing continued. Some of the heirs to Ireland's violent traditions refused to give up their inheritance." Holland, Jack (1999). Hope against History: The Course of Conflict in Northern Ireland. New York: Henry Holt. tr. 221. ISBN 978-0-8050-6087-4. 
  65. ^ Elliot, Marianne (2007). The Long Road to Peace in Northern Ireland: Peace Lectures from the Institute of Irish Studies at Liverpool University. University of Liverpool Institute of Irish Studies, Liverpool University Press. p. 2. ISBN 1-84631-065-2.
  66. ^ Dorey, Peter (1995). British politics since 1945. Making contemporary Britain. Oxford: Blackwell. tr. 164–223. ISBN 978-0-631-19075-2. 
  67. ^ Griffiths, Alan; Wall, Stuart (2007). Applied Economics (ấn bản 11). Harlow: Financial Times Press. tr. 6. ISBN 978-0-273-70822-3. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2010. 
  68. ^ Keating, Michael (1 tháng 1 năm 1998). “Reforging the Union: Devolution and Constitutional Change in the United Kingdom”. Publius: the Journal of Federalism 28 (1): 217. doi:10.1093/oxfordjournals.pubjof.a029948. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2009. 
  69. ^ Jackson, Mike (3 tháng 4 năm 2011). “Military action alone will not save Libya”. Financial Times (London). 
  70. ^ “United Kingdom country profile”. BBC. 24 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  71. ^ “Scottish referendum: Scotland votes no to independence”. BBC News. 19 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2014. 
  72. ^ “Her Majesty the Queen”. Hoàng gia Anh. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2014. 
  73. ^ Bagehot, Walter (1867). The English Constitution. London: Chapman and Hall. p. 103.
  74. ^ Carter, Sarah. “A Guide To the UK Legal System”. University of Kent at Canterbury. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2006. 
  75. ^ “Parliamentary sovereignty”. UK Parliament. 21 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2012. 
  76. ^ “The Government, Prime Minister and Cabinet”. Public services all in one place. Directgov. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010. 
  77. ^ “Brown is UK's new prime minister”. BBC News. 27 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2008. 
  78. ^ November 2010 “Elections and voting”. UK Parliament. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  79. ^ November 2010 “The Parliament Acts”. UK Parliament. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  80. ^ “United Kingdom”. European Election Database. Norwegian Social Science Data Services. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2010. 
  81. ^ Wainwright, Martin (28 tháng 5 năm 2010). “Thirsk and Malton: Conservatives take final seat in parliament”. The Guardian (London). Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2010. 
  82. ^ “Scots MPs attacked over fees vote”. BBC News. 27 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2008. 
  83. ^ Taylor, Brian (1 tháng 6 năm 1998). “Talking Politics: The West Lothian Question”. BBC News. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2008. 
  84. ^ “England-only laws 'need majority from English MPs'”. BBC News. 25 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  85. ^ “Scotland's Parliament – powers and structures”. BBC News. 8 tháng 4 năm 1999. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2008. 
  86. ^ “Structure and powers of the Assembly”. BBC News. 9 tháng 4 năm 1999. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2008. 
  87. ^ Burrows, N. (1999). “Unfinished Business: The Scotland Act 1998”. The Modern Law Review 62 (2): 241–60 [p. 249]. doi:10.1111/1468-2230.00203. “The UK Parliament is sovereign and the Scottish Parliament is subordinate. The White Paper had indicated that this was to be the approach taken in the legislation. The Scottish Parliament is not to be seen as a reflection of the settled will of the people of Scotland or of popular sovereignty but as a reflection of its subordination to a higher legal authority. Following the logic of this argument, the power of the Scottish Parliament to legislate can be withdrawn or overridden...” 
  88. ^ Elliot, M. (2004). “United Kingdom: Parliamentary sovereignty under pressure”. International Journal of Constitutional Law 2 (3): 545–627 [pp. 553–554]. doi:10.1093/icon/2.3.545. ‘Notwithstanding substantial differences among the schemes, an important common factor is that the U.K. Parliament has not renounced legislative sovereignty in relation to the three nations concerned. For example, the Scottish Parliament is empowered to enact primary legislation on all matters, save those in relation to which competence is explicitly denied... but this power to legislate on what may be termed "devolved matters" is concurrent with the Westminster Parliament's general power to legislate for Scotland on any matter at all, including devolved matters... In theory, therefore, Westminster may legislate on Scottish devolved matters whenever it chooses...’ 
  89. ^ Walker, G. (2010). “Scotland, Northern Ireland, and Devolution, 1945–1979”. Journal of British Studies 39 (1): 124 & 133. doi:10.1086/644536. 
  90. ^ Gamble, A. “The Constitutional Revolution in the United Kingdom”. Publius 36 (1): 19–35 [p. 29]. doi:10.1093/publius/pjj011. “The British parliament has the power to abolish the Scottish parliament and the Welsh assembly by a simple majority vote in both houses, but since both were sanctioned by referenda, it would be politically difficult to abolish them without the sanction of a further vote by the people. In this way several of the constitutional measures introduced by the Blair government appear to be entrenched and not subject to a simple exercise of parliamentary sovereignty at Westminster.” 
  91. ^ Meehan, E. (1999). “The Belfast Agreement—Its Distinctiveness and Points of Cross-Fertilization in the UK's Devolution Programme”. Parliamentary Affairs 52 (1): 19–31 [p. 23]. doi:10.1093/pa/52.1.19. “[T]he distinctive involvement of two governments in the Northern Irish problem means that Northern Ireland's new arrangements rest upon an intergovernmental agreement. If this can be equated with a treaty, it could be argued that the forthcoming distribution of power between Westminster and Belfast has similarities with divisions specified in the written constitutions of federal states... Although the Agreement makes the general proviso that Westminster's 'powers to make legislation for Northern Ireland' remains 'unaffected', without an explicit categorical reference to reserved matters, it may be more difficult than in Scotland or Wales for devolved powers to be repatriated. The retraction of devolved powers would not merely entail consultation in Northern Ireland backed implicitly by the absolute power of parliamentary sovereignty but also the renegotiation of an intergovernmental agreement.” 
  92. ^ “The Treaty (act) of the Union of Parliament 1706”. Scottish History Online. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2008. 
  93. ^ “UK Supreme Court judges sworn in”. BBC News. 1 tháng 10 năm 2009. 
  94. ^ “Constitutional reform: A Supreme Court for the United Kingdom”. Department for Constitutional Affairs. Tháng 7 năm 2003. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2013. 
  95. ^ “Role of the JCPC”. Judicial Committee of the Privy Council. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  96. ^ Bainham, Andrew (1998). The international survey of family law: 1996. The Hague: Martinus Nijhoff. tr. 298. ISBN 978-90-411-0573-8. 
  97. ^ “The Australian courts and comparative law”. Australian Law Postgraduate Network. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2010. 
  98. ^ “Court of Session – Introduction”. Scottish Courts. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2008. [liên kết hỏng]
  99. ^ “High Court of Justiciary – Introduction”. Scottish Courts. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2008. [liên kết hỏng]
  100. ^ “House of Lords – Practice Directions on Permission to Appeal”. UK Parliament. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2009. 
  101. ^ Swaine, Jon (13 January 2009). "Barack Obama presidency will strengthen special relationship, says Gordon Brown". The Daily Telegraph (London). Retrieved 3 May 2011.
  102. ^ Kirchner, E. J.; Sperling, J. (2007). Global Security Governance: Competing Perceptions of Security in the 21st Century. London: Taylor & Francis. p. 100. ISBN 0-415-39162-8
  103. ^ The Committee Office, House of Commons (19 tháng 2 năm 2009). “DFID's expenditure on development assistance”. UK Parliament. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  104. ^ “Ministry of Defence”. Ministry of Defence. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2012. 
  105. ^ “Speaker addresses Her Majesty Queen Elizabeth II”. UK Parliament. 30 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  106. ^ “House of Commons Hansard”. UK Parliament. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2008. 
  107. ^ UK 2005: The Official Yearbook of the United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland. Office for National Statistics. p. 89.
  108. ^ Oxford English Dictionary: "British Isles: a geographical term for the islands comprising Great Britain and Ireland with all their offshore islands including the Isle of Man and the Channel Islands."
  109. ^ a ă â b c d “United Kingdom”. The World Factbook. Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2008. 
  110. ^ a ă â b c Latimer Clarke Corporation Pty Ltd. “United Kingdom – Atlapedia Online”. Atlapedia.com. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010. 
  111. ^ ROG Learing Team (23 tháng 8 năm 2002). “The Prime Meridian at Greenwich”. Royal Museums Greenwich. Royal Museums Greenwich. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2012. 
  112. ^ Neal, Clare. “How long is the UK coastline?”. British Cartographic Society. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010. 
  113. ^ “The Channel Tunnel”. Eurotunnel. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2010. [liên kết hỏng]
  114. ^ “England – Profile”. BBC News. 11 tháng 2 năm 2010. 
  115. ^ “Scotland Facts”. Scotland Online Gateway. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2008. 
  116. ^ Winter, Jon (19 tháng 5 năm 2001). “The complete guide to Scottish Islands”. The Independent (London). 
  117. ^ “Overview of Highland Boundary Fault”. Gazetteer for Scotland. University of Edinburgh. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2010. 
  118. ^ “Ben Nevis Weather”. Ben Nevis Weather. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008. 
  119. ^ “Profile: Wales”. BBC News. 9 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010. 
  120. ^ Giles Darkes (26 tháng 4 năm 2014). “How long is the UK coastline?”. The British Cartographic Society. 
  121. ^ “Geography of Northern Ireland”. University of Ulster. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2006. 
  122. ^ “UK climate summaries”. Met Office. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2011. 
  123. ^ United Nations Economic and Social Council (tháng 8 năm 2007). “Ninth UN Conference on the standardization of Geographical Names”. UN Statistics Division. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2008. 
  124. ^ Barlow, I.M. (1991). Metropolitan Government. London: Routledge. ISBN 978-0-415-02099-2. 
  125. ^ “Welcome to the national site of the Government Office Network”. Government Offices. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2008. 
  126. ^ “A short history of London government”. Greater London Authority. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2008. 
  127. ^ Sherman, Jill; Norfolk, Andrew (5 tháng 11 năm 2004). “Prescott's dream in tatters as North East rejects assembly”. The Times (London). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008. “The Government is now expected to tear up its twelve-year-old plan to create eight or nine regional assemblies in England to mirror devolution in Scotland and Wales.”  (cần đăng ký mua)
  128. ^ “Local Authority Elections”. Local Government Association. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2008. [liên kết hỏng]
  129. ^ “STV in Scotland: Local Government Elections 2007”. Political Studies Association. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. 
  130. ^ Ethical Standards in Public Life framework: “Ethical Standards in Public Life”. The Scottish Government. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2008. 
  131. ^ “Local Authorities”. The Welsh Assembly Government. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2008. 
  132. ^ “Local government elections in Wales”. The Electoral Commission. 2008. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2011. 
  133. ^ “Welsh Local Government Association”. Welsh Local Government Association. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2008. 
  134. ^ Devenport, Mark (18 tháng 11 năm 2005). “NI local government set for shake-up”. BBC News. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2008. 
  135. ^ “Foster announces the future shape of local government” (Thông cáo báo chí). Northern Ireland Executive. 13 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2008. 
  136. ^ “Local Government elections to be aligned with review of public administration” (Thông cáo báo chí). Northern Ireland Office. 25 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. [liên kết hỏng]
  137. ^ “CIBC PWM Global – Introduction to The Cayman Islands”. Cibc.com. 11 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  138. ^ Rappeport, Laurie. “Cayman Islands Tourism”. Washington DC: USA Today Travel Tips. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  139. ^ “Working with Overseas Territories”. Foreign & Commonwealth Office. 6 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  140. ^ http://www.justice.gov.uk/downloads/about/moj/our-responsibilities/Background_Briefing_on_the_Crown_Dependencies2.pdf
  141. ^ “Overseas Territories”. Foreign & Commonwealth Office. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. 
  142. ^ “The World Factbook”. CIA. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2010. 
  143. ^ “Country profiles”. Foreign & Commonwealth Office. 21 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. [liên kết hỏng]
  144. ^ Davison, Phil (18 tháng 8 năm 1995). “Bermudians vote to stay British”. The Independent (London). Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2012. 
  145. ^ The Committee Office, House of Commons. “House of Commons – Crown Dependencies – Justice Committee”. Publications.parliament.uk. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010. 
  146. ^ Fact sheet on the UK's relationship with the Crown Dependencies – gov.uk, Ministry of Justice. Retrieved 25 August 2014.
  147. ^ “Census Geography”. Office for National Statistics. 30 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2012. 
  148. ^ “Welcome to the 2011 Census for England and Wales”. Office for National Statistics. 21 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2008. 
  149. ^ a ă â “2011 Census: Population Estimates for the United Kingdom”. Office for National Statistics. 27 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2012. 
  150. ^ a ă â “Annual Mid-year Population Estimates, 2010”. Office for National Statistics. 2011. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2012. 
  151. ^ a ă “2011 UK censuses”. Office for National Statistics. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2012. 
  152. ^ “Population: UK population grows to 59.6 million” (Thông cáo báo chí). Office for National Statistics. 24 tháng 6 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2012. 
  153. ^ Khan, Urmee (16 tháng 9 năm 2008). “England is most crowded country in Europe”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2009. 
  154. ^ Carrell, Severin (17 tháng 12 năm 2012). “Scotland's population at record high”. The Guardian. London. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2012. 
  155. ^ a ă â “Vital Statistics: Population and Health Reference Tables (February 2014 Update): Annual Time Series Data”. ONS. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2014. 
  156. ^ Boseley, Sarah (14 tháng 7 năm 2008). “The question: What's behind the baby boom?”. The Guardian (London). tr. 3. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2009. 
  157. ^ Tables, Graphs and Maps Interface (TGM) table. Eurostat (26 February 2013). Retrieved 12 July 2013.
  158. ^ Campbell, Denis (11 tháng 12 năm 2005). “3.6m people in Britain are gay – official”. The Observer (London). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  159. ^ “2011 Census - Built-up areas”. ONS. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2013. 
  160. ^ Mid-2012 Population Estimates for Settlements and Localities in Scotland General Register Office for Scotland
  161. ^ “Belfast Metropolitan Urban Area NISRA 2005”. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  162. ^ 2011 Census: KS201UK Ethnic group, local authorities in the United Kingdom, Accessed 21 February 2014
  163. ^ “Welsh people could be most ancient in UK, DNA suggests”. BBC News. 19 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  164. ^ Thomas, Mark G. et al. "Evidence for a segregated social structure in early Anglo-Saxon England". Proceedings of the Royal Society B: Biological Sciences 273(1601): 2651–2657.
  165. ^ Owen, James (19 July 2005). "Review of 'The Tribes of Britain'". National Geographic (Washington DC).
  166. ^ Oppenheimer, Stephen (October 2006). "Myths of British ancestry" tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 26 tháng tháng 9 năm 2006). Prospect (London). Retrieved 5 November 2010.
  167. ^ Henderson, Mark (23 tháng 10 năm 2009). “Scientist – Griffin hijacked my work to make race claim about 'British aborigines'”. The Times (London). Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2009.  (cần đăng ký mua)
  168. ^ Costello, Ray (2001). Black Liverpool: The Early History of Britain's Oldest Black Community 1730–1918. Liverpool: Picton Press. ISBN 1-873245-07-6. 
  169. ^ “Culture and Ethnicity Differences in Liverpool – Chinese Community”. Chambré Hardman Trust. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2009. 
  170. ^ Coleman, David; Compton, Paul; Salt, John (2002). "The demographic characteristics of immigrant populations", Council of Europe, p.505. ISBN 92-871-4974-7.
  171. ^ Mason, Chris (30 tháng 4 năm 2008). “'Why I left UK to return to Poland'”. BBC News. 
  172. ^ “Resident population estimates by ethnic group (percentages): London”. Office for National Statistics. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  173. ^ “Resident population estimates by ethnic group (percentages): Leicester”. Office for National Statistics. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  174. ^ “Census 2001 – Ethnicity and religion in England and Wales”. Office for National Statistics. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  175. ^ Loveys, Kate (22 tháng 6 năm 2011). “One in four primary school pupils are from an ethnic minority and almost a million schoolchildren do not speak English as their first language”. Daily Mail (London). Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2011. 
  176. ^ Rogers, Simon (19 tháng 5 năm 2011). “Non-white British population reaches 9.1 million”. The Guardian (London). 
  177. ^ Wallop, Harry (18 tháng 5 năm 2011). “Population growth of last decade driven by non-white British”. The Daily Telegraph (London). 
  178. ^ “Official EU languages”. European Commission. 8 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2009. 
  179. ^ “Language Courses in New York”. United Nations. 2006. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2010. 
  180. ^ “English language – Government, citizens and rights”. Directgov. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011. 
  181. ^ “Commonwealth Secretariat – UK”. Commonwealth Secretariat. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011. 
  182. ^ a ă â “Languages across Europe: United Kingdom”. BBC. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2013. 
  183. ^ Booth, Robert (30 tháng 1 năm 2013). “Polish becomes England's second language”. The Guardian (London). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2012. 
  184. ^ European Charter for Regional or Minority Languages, Strasbourg, 5.XI.1992 - http://conventions.coe.int/treaty/en/Treaties/Html/148.htm
  185. ^ Framework Convention for the Protection of National Minorities, Strasbourg, 1.II.1995 - http://conventions.coe.int/Treaty/en/Treaties/Html/157.htm
  186. ^ National Statistics Online – Welsh Language[liên kết hỏng]. National Statistics Office.
  187. ^ “Differences in estimates of Welsh Language Skills”. Office for National Statistics. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2008. 
  188. ^ Wynn Thomas, Peter (tháng 3 năm 2007). “Welsh today”. Voices. BBC. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2011. 
  189. ^ “Scotland's Census 2001 – Gaelic Report”. General Register Office for Scotland. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  190. ^ “Local UK languages 'taking off'”. BBC News. 12 tháng 2 năm 2009. 
  191. ^ “Language Data – Scots”. European Bureau for Lesser-Used Languages. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2008. 
  192. ^ “Fall in compulsory language lessons”. BBC News. 4 tháng 11 năm 2004. 
  193. ^ “The School Gate for parents in Wales”. BBC. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  194. ^ Cannon, John, ed. (2nd edn., 2009). A Dictionary of British History. Oxford University Press. p. 144. ISBN 0-19-955037-9.
  195. ^ Field, Clive D. (November 2009). "British religion in numbers"[liên kết hỏng]. BRIN Discussion Series on Religious Statistics, Discussion Paper 001. Retrieved 3 June 2011.
  196. ^ Yilmaz, Ihsan (2005). Muslim Laws, Politics and Society in Modern Nation States: Dynamic Legal Pluralisms in England, Turkey, and Pakistan. Aldershot: Ashgate Publishing. pp. 55–6. ISBN 0-7546-4389-1.
  197. ^ Brown, Callum G. (2006). Religion and Society in Twentieth-Century Britain. Harlow: Pearson Education. p. 291. ISBN 0-582-47289-X.
  198. ^ Norris, Pippa; Inglehart, Ronald (2004). Sacred and Secular: Religion and Politics Worldwide. Cambridge University Press. p. 84. ISBN 0-521-83984-X.
  199. ^ Fergusson, David (2004). Church, State and Civil Society. Cambridge University Press. p. 94. ISBN 0-521-52959-X.
  200. ^ “UK Census 2001”. National Office for Statistics. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2007. 
  201. ^ “Religious Populations”. Office for National Statistics. 11 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2011. 
  202. ^ Philby, Charlotte (12 tháng 12 năm 2012). “Less religious and more ethnically diverse: Census reveals a picture of Britain today”. The Independent (London). 
  203. ^ The History of the Church of England. The Church of England. Retrieved 23 November 2008.
  204. ^ “Queen and Church of England”. British Monarchy Media Centre. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2010. 
  205. ^ “Queen and the Church”. The British Monarchy (Official Website). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2011. 
  206. ^ “How we are organised”. Church of Scotland. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2011. 
  207. ^ Weller, Paul (2005). Time for a Change: Reconfiguring Religion, State, and Society. London: Continuum. pp. 79–80. ISBN 0567084876.
  208. ^ Peach, Ceri, "United Kingdom, a major transformation of the religious landscape", in H. Knippenberg. ed. (2005). The Changing Religious Landscape of Europe. Amsterdam: Het Spinhuis. pp. 44–58. ISBN 90-5589-248-3.
  209. ^ “Local Authorities”. Department for Children, Schools and Families. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008. 
  210. ^ Gordon, J.C.B. (1981). Verbal Deficit: A Critique. London: Croom Helm. tr. 44 note 18. ISBN 978-0-85664-990-5. 
  211. ^ Section 8 ('Duty of local education authorities to secure provision of primary and secondary schools'), Sections 35–40 ('Compulsory attendance at Primary and Secondary Schools') and Section 61 ('Prohibition of fees in schools maintained by local education authorities...'), Education Act 1944.
  212. ^ “England's pupils in global top 10”. BBC News. 10 tháng 12 năm 2008. 
  213. ^ Frankel, Hannah (3 tháng 9 năm 2010). “Is Oxbridge still a preserve of the posh?”. TES (London). Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  214. ^ “World's top 100 universities 2013: their reputations ranked by Times Higher Education”. The Guardian (London). 2013. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2014. 
  215. ^ “About SQA”. Scottish Qualifications Authority. 10 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  216. ^ “About Learning and Teaching Scotland”. Learning and Teaching Scotland. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  217. ^ “Brain drain in reverse”. Scotland Online Gateway. Tháng 7 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2007. 
  218. ^ “Increase in private school intake”. BBC News. 17 tháng 4 năm 2007. 
  219. ^ “MSPs vote to scrap endowment fee”. BBC News. 28 tháng 2 năm 2008. 
  220. ^ What will your child learn?[liên kết hỏng] The Welsh Assembly Government. Retrieved 22 January 2010.
  221. ^ CCEA. “About Us – What we do”. Council for the Curriculum Examinations & Assessment. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  222. ^ Haden, Angela; Campanini, Barbara biên tập (2000). The world health report 2000 – Health systems: improving performance. Geneva: World Health Organisation. ISBN 92-4-156198-X. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2011. 
  223. ^ World Health Organization. Measuring overall health system performance for 191 countries. New York University. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2011. 
  224. ^ “'Huge contrasts' in devolved NHS”. BBC News. 28 tháng 8 năm 2008. 
  225. ^ Triggle, Nick (2 tháng 1 năm 2008). “NHS now four different systems”. BBC News. 
  226. ^ Fisher, Peter. “The NHS from Thatcher to Blair”. NHS Consultants Association (International Association of Health Policy). “The Budget... was even more generous to the NHS than had been expected amounting to an annual rise of 7.4% above the rate of inflation for the next 5 years. This would take us to 9.4% of GDP spent on health ie around EU average.” 
  227. ^ “OECD Health Data 2009 – How Does the United Kingdom Compare”. Paris: Organisation for Economic Co-operation and Development. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. [liên kết hỏng]
  228. ^ “Principles for Economic Regulation”. Department for Business, Innovation & Skills. Tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2011. 
  229. ^ “United Kingdom”. International Monetary Fund. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2009. 
  230. ^ Chavez-Dreyfuss, Gertrude (1 tháng 4 năm 2008). “Global reserves, dollar share up at end of 2007-IMF”. Reuters. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2009. 
  231. ^ “More About the Bank”. Bank of England. 21 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2008. 
  232. ^ “Index of Services (experimental)”. Office for National Statistics. 7 tháng 5 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2006. 
  233. ^ Sassen, Saskia (2001). The Global City: New York, London, Tokyo (ấn bản 2). Princeton University Press. ISBN 0-691-07866-1. 
  234. ^ a ă “Global Financial Centres 7”. Z/Yen. 2010. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2010. 
  235. ^ a ă “Worldwide Centres of Commerce Index 2008”. Mastercard. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2011. 
  236. ^ a ă Zumbrun, Joshua (15 tháng 7 năm 2008). “"World's Most Economically Powerful Cities".”. Forbes (New York). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2010. 
  237. ^ “Global city GDP rankings 2008–2025”. PricewaterhouseCoopers. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  238. ^ International Tourism Receipts[liên kết hỏng]. UNWTO Tourism Highlights, Edition 2005. page 12. World Tourism Organisation. Retrieved 24 May 2006.
  239. ^ Bremner, Caroline (10 tháng 1 năm 2010). “Euromonitor International's Top City Destination Ranking”. Euromonitor International. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2011. 
  240. ^ “From the Margins to the Mainstream – Government unveils new action plan for the creative industries”. DCMS. 9 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2007. [liên kết hỏng]
  241. ^ a ă “European Countries – United Kingdom”. Europa (web portal). Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010. 
  242. ^ Harrington, James W.; Warf, Barney (1995). Industrial location: Principles, practices, and policy. London: Routledge. tr. 121. ISBN 978-0-415-10479-1. 
  243. ^ Spielvogel, Jackson J. (2008). Western Civilization: Alternative Volume: Since 1300. Belmont, CA: Thomson Wadsworth. ISBN 978-0-495-55528-5. 
  244. ^ Hewitt, Patricia (15 tháng 7 năm 2004). “TUC Manufacturing Conference”. Department of Trade and Industry. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2006. 
  245. ^ “Industry topics”. Society of Motor Manufacturers and Traders. 2011. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2011. 
  246. ^ “The Pharmaceutical sector in the UK”. Department for Business, Innovation & Skills. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2011. 
  247. ^ “Ministerial Industry Strategy Group – Pharmaceutical Industry: Competitiveness and Performance Indicators”. Department of Health. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2011. [liên kết hỏng]
  248. ^ [1][liên kết hỏng]
  249. ^ “UK in recession as economy slides”. BBC News. 23 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2009. 
  250. ^ “UK youth unemployment at its highest in two decades: 22.5%”. MercoPress. 15 tháng 4 năm 2012. 
  251. ^ Groom, Brian (19 tháng 1 năm 2011). “UK youth unemployment reaches record”. Financial Times (London). 
  252. ^ “Release: EU Government Debt and Deficit returns”. Office for National Statistics. Tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  253. ^ “United Kingdom Energy Profile”. U.S. Energy Information Administration. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2010. 
  254. ^ Mason, Rowena (24 tháng 10 năm 2009). “Let the battle begin over black gold”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2010. 
  255. ^ Heath, Michael (26 tháng 11 năm 2010). “RBA Says Currency Containing Prices, Rate Level 'Appropriate' in Near Term”. Bloomberg (New York). Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2010. 
  256. ^ “Nuclear Power in the United Kingdom”. World Nuclear Association. Tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  257. ^ “Britain sees real wages fall 3.2%”. Daily Express (London). 2 tháng 3 năm 2013. 
  258. ^ Beckford, Martin (5 December 2011). "Gap between rich and poor growing fastest in Britain". The Daily Telegraph (London).
  259. ^ “United Kingdom: Numbers in low income”. The Poverty Site. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2009. 
  260. ^ “United Kingdom: Children in low income households”. The Poverty Site. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2009. 
  261. ^ “Warning of food price hike crisis”. BBC News. 4 tháng 4 năm 2009. 
  262. ^ Gascoin, J. "A reappraisal of the role of the universities in the Scientific Revolution", in Lindberg, David C. and Westman, Robert S., eds (1990), Reappraisals of the Scientific Revolution. Cambridge University Press. p. 248. ISBN 0-521-34804-8.
  263. ^ Reynolds, E.E.; Brasher, N.H. (1966). Britain in the Twentieth Century, 1900–1964. Cambridge University Press. p. 336. Bản mẫu:Oclc
  264. ^ Burtt, E.A. (2003) [1924].The Metaphysical Foundations of Modern Science. Mineola, NY: Courier Dover. p. 207. ISBN 0-486-42551-7.
  265. ^ Hatt, C. (2006). Scientists and Their Discoveries. London: Evans Brothers. pp. 16, 30 and 46. ISBN 0-237-53195-X.
  266. ^ Jungnickel, C.; McCormmach, R. (1996). Cavendish. American Philosophical Society. ISBN 0-87169-220-1.
  267. ^ “The Nobel Prize in Physiology or Medicine 1945: Sir Alexander Fleming, Ernst B. Chain, Sir Howard Florey”. The Nobel Foundation. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2011. 
  268. ^ Hatt, C. (2006). Scientists and Their Discoveries. London: Evans Brothers. p. 56. ISBN 0-237-53195-X.
  269. ^ James, I. (2010). Remarkable Engineers: From Riquet to Shannon. Cambridge University Press. pp. 33–6. ISBN 0-521-73165-8.
  270. ^ Bova, Ben (2002) [1932]. The Story of Light. Naperville, IL: Sourcebooks. p. 238. ISBN 978-1-4022-0009-0.
  271. ^ “Alexander Graham Bell (1847–1922)”. Scottish Science Hall of Fame. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2011. 
  272. ^ “John Logie Baird (1888–1946)”. BBC History. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2011. 
  273. ^ Cole, Jeffrey (2011). Ethnic Groups of Europe: An Encyclopedia. Santa Barbara, CA: ABC-CLIO. p. 121. ISBN 1-59884-302-8.
  274. ^ Castells, M.; Hall, P.; Hall, P.G. (2004). Technopoles of the World: the Making of Twenty-First-Century Industrial Complexes. London: Routledge. pp. 98–100. ISBN 0-415-10015-1.
  275. ^ “Knowledge, networks and nations: scientific collaborations in the twenty-first century”. Royal Society. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2011. 
  276. ^ McCook, Alison. “Is peer review broken?”. Reprinted from the Scientist 20(2) 26, 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2011. 
  277. ^ a ă “Heathrow 'needs a third runway'”. BBC News. 25 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2008. 
  278. ^ a ă “Statistics: Top 30 World airports” (Thông cáo báo chí). Airports Council International. Tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2008. 
  279. ^ “Transport Statistics Great Britain: 2010”. Department for Transport. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2010. 
  280. ^ a ă “Size of Reporting Airports October 2009 – September 2010”. Civil Aviation Authority. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2010. 
  281. ^ “BMI being taken over by Lufthansa”. BBC News. 29 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]