Vườn quốc gia Garamba
| Vườn quốc gia Garamba | |
|---|---|
| Di sản thế giới UNESCO | |
|
|
|
| Quốc gia | |
| Dạng | tự nhiên |
| Tiêu chuẩn | vii, x |
| Tham khảo | 136 |
| Vùng† | Châu Phi |
| Lịch sử công nhận | |
| Công nhận | 1980 (Kỳ họp thứ 4) |
| Bị đe dọa | 1984-1992; 1996- |
| * Dịch từ tên chính thức trên danh sách Di sản thế giới. † Vùng được UNESCO phân loại chính thức. |
|
| Vườn quốc gia Garamba | |
|---|---|
| IUCN II (Vườn quốc gia) | |
| Tọa độ | 4°0′B 29°15′Đ / 4°B 29,25°ĐTọa độ: 4°0′B 29°15′Đ / 4°B 29,25°Đ |
| Diện tích | 4.920 km² |
| Thành lập | 1938 |
| Cơ quan quản lý | l'Institut Congolais pour la Conservation de la Nature (ICCN) |
Vườn quốc gia Garamba là một vườn quốc gia tại Đông Bắc của nước Cộng hòa Dân chủ Congo được thành lập năm 1938 và được UNESCO công nhận là một di sản thế giới năm 1980. Vườn quốc gia này là nơi cuối cùng có quần thể tê giác trắng được biết đến trên thế giới. Vườn quốc gia này đã được UNESCO đưa vào Danh sách di sản thế giới bị đe dọa.
Vườn quốc gia có diện tích lớn các hoang mạc, đồng cỏ, rừng cây và các đầm lầy trũng dọc các bờ sông. Vườn quốc gia nổi bật với số lượng các loài động vật bao gồm : voi, hươu cao cổ, hà mã, và đặc biệt là loài tê giác trắng với khoảng 30 cá thể, là nhóm tê giác trắng cuối cùng của khu vực Bắc Phi. Ngoài ra là rất nhiều các loài động vật khác như : sư tử, linh cẩu đốm, linh dương, trâu rừng, linh trưởng (tinh tinh, khỉ đầu chó..), rái cá, cầy, mèo vàng, beo... tạo thành quần thể động vật vô cùng đa dạng.