Vải thiều

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Vải thiều hay còn có tên Lệ Chi là loại quả vải nổi tiếng ở Thanh Hà, Chí Linh (Hải Dương) và Lục Ngạn (Bắc Giang). Vải thiều Thanh Hà đã được ủy ban nhân dân huyện Thanh Hà, Sở khoa học Công nghệ Hải Dương tiến hành đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm này lên Cục Sở hữu trí tuệ. Theo đó, vải thiều Thanh Hà sẽ là một trong số ít sản phẩm nổi tiếng như: chè xanh Mộc Châu, cà phê Buôn Mê Thuột, nước mắm Phú Quốc…, được bảo hộ chỉ dẫn địa lý đến thời điểm hiện tại ở VN.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vải thiều có nguồn gốc Trung Quốc do ông Hoàng Văn Cơm thôn Thuý Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương[cần dẫn nguồn]. Cây vải tổ do ông trồng hiện có độ tuổi khoảng 150 năm. Dân địa phương đã nhân giống từ cây này. Ngày nay, vải thiều được nhân giống sang một số nơi khác trên cả nước như Lục Ngạn - Bắc Giang, Chí Linh - Hải Dương và nhiều địa phương khác...

Giống vải được ưa chuộng nhất ở Việt Nam là vải thiều trồng tại khu vực huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Quả thu hoạch từ các cây vải trồng trong khu vực này thông thường có hương vị thơm và ngọt hơn vải được trồng ở các khu vực khác (mặc dù cũng lấy giống từ đây). Một giống vải khác, chín sớm hơn, có tên gọi dân gian là (vải) tu hú có hạt to hơn và vị chua hơn so với vải thiều. Nó có tên gọi như vậy có lẽ là do gắn liền với sự trở lại của một loài chim di cư là chim tu hú.

Hiện tại, ở Việt Nam thì chỉ có 2 huyện trồng nhiều vải nhất đó là Huyện Thanh Hà - Hải Dương (nguồn ngốc trồng cây vải Thiều đầu tiên ở Việt Nam), và Huyện Lục Ngạn - Bắc Giang. Tuy sản lượng ở Lục Ngạn Bắc Giang nhiều hơn, nhưng vải ở Thanh Hà quả vẫn to, ngọt, và giá bán tại gốc cao hơn...

Ở Châu Á thì Ấn Độ, và Trung Quốc cũng có loại vải Thiều này. Nhưng họ cũng chưa xuất khẩu được là bao. Nhưng về cạnh tranh thì chắc chắn ta thua họ ở khâu đóng gói, bảo quản sản phẩm.

Hàng năm, ở Thanh Hà thu hoạch khoảng 30.000 tấn đến 50.000 tấn vải mỗi năm. và khoảng 30% là để sấy khô (có năm, vì vải ế, nên tỉ lệ này lớn hơn) còn lại là bán tươi.

Hàng năm ở Lục Nam và Lục Ngạn, Bắc Giang lượng vải còn lớn hơn so với ở Thanh Hà rất nhiều, ước tính là 500.000 tấn / năm. Tuy nhiên, vì chất lượng vải thiều ở đây ngon hơn ở các nơi khác nên chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc dưới dạng tiểu ngạch, hàng tươi bảo quản trong thùng xốp và bọc nước đá ở bên trong.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Quả nhỏ, vỏ sần, chín màu đỏ, hạt rất màu đen tuyền hoặc không hạt, cùi trắng dày ăn rất ngọt, hương vị thơm đặc biệt. Vải ra hoa vào tháng 3 dương lịch và chín vào tháng 6. Vải thiều Thanh Hà thường được vận chuyển vào tiêu thụ tại các vùng miền khác như Sài Gòn, Hà Nội...

Khoảng thời gian thu hoạch vải thiều thường ngắn, khoảng 2 tuần. Vì vậy nên với sản lượng lớn, người ta thường chế biến bằng cách sấy khô, sản phẩm sau đó gọi là vải khô. Những năm trước, giá cao điểm của mỗi kg vải khô vào khoảng 100 đến 180 nghìn VNĐ. Nhưng hiện nay giá vải khô cũng giảm nhiều, bỏ ra khoảng 30 nghìn sẽ mua được 1 kg vải khô ngay tại đất Thanh Hà.

Phương pháp bảo quản[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng thời gian thu hoạch vải thiều thường ngắn, khoảng 2 tuần. Do vậy công nghệ bảo quản rất quan trọng. Có 02 phương pháp bảo quản chính:

1. Phương pháp sấy khô thủ công: Cho ra những quả vải sấy, thường dùng làm thuốc hoặc mứt. Tuy nhiên đã ít sử dụng. 2.Phương pháp bảo quản tươi đông lạnh: Vải tươi bó từng chùm nhúng vào nước thùng nước đá cây ngâm khoảng 5 phút cho lạnh, bỏ vào thùng xốp loại 15,25 và 30 kg, bỏ nước đá bọc trong túi ni long ở giữa, xếp vải xung quanh. Ngoài ra có thể dùng chăn ẩm,màng mút tẩm nước lạnh bọc ngoài lớp nilon đá tránh để vải tiếp xúc trực tiếp với đá lạnh đề phòng vải bị thâm. Với cách bảo quản mới, ở Lục Ngạn đã gần như loại bỏ phương pháp sấy khô vải, mà chuyển sang cung cấp vải tươi bằng cách : Đóng thùng xốp cách nhiệt, túi bóng, trong đó là đá lạnh bảo ôn, có thể giữ vải thiều tươi ngon trong khoảng 10 ngày kể từ ngày thu hoạch. Ngày nay, chỉ những vải rụng, vải ế, vải không đủ chất lượng hàng tươi thì mới được đưa vào sấy vải mà thôi.

Giá vải[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng những năm 92, 93 giá vải khá đắt, chừng 15.000 đến 17.000 đồng mỗi kg, nhưng cho đến năm 1998 do báo chí đưa thông tin sai lệch cộng với việc tăng diện tích trồng, sau khi đã "phủ xanh đồi trọc, đất trống" ở nhiều nơi, sản lượng tăng trong khi sức mua không tăng, không xuất khẩu được nên hạ giá mạnh, có vụ như năm 2006 chỉ khoảng 3.000 đến 4.000 đồng mỗi kg[cần dẫn nguồn], ngay ở vùng đất vải Thanh Hà. Sau nhiều nǎm rớt giá, bằng nhiều nỗ lực của bà con nông dân trong khâu chăm sóc và bảo đảm qui tắc ATVSTP, năm 2009, 2010 giá tại Lục Ngạn ổn định từ 18.000 đến 22.000 đồng/kg[cần dẫn nguồn]; năm 2011 trong hoàn cảnh tăng giá như hiện nay, dự kiến giá sẽ giữ ở mức 22.000 đến 28.000 đồng/kg thì người nông dân mới đủ bù chi phí chăm sóc và có lãi chút ít. Năm 2011, giá vải Tàu lai, một loại vải sớm tại Thanh Hà khoảng 11.000 đồng/kg, vải Thiều khoảng 8.000 đồng/kg[cần dẫn nguồn].

Thị trường tiêu thụ[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại, thị trường tiêu thụ chính của vải thiều vẫn là thị trường nội địa trong nước, còn lại một phần xuất khẩu sang Trung Quốc, Campuchia, và một số nước Châu Âu. Vào mùa vải, khoảng giữa tháng 6 là các container lớn thường về thị trấn và các địa điểm mua bán vải thiều rồi chở đi các thành phố lớn tiêu thụ.

Vì mùa vải chỉ kéo dài trong khoảng thời gian ngắn, với số lượng khá nhiều nên việc tìm đầu ra cho sản phẩm đang là bài toán nan giải đối với người dân trồng vải và các cơ quan chức năng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]