Vải thiều

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vải
Lychee.jpg
Cành vải với quả chín
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Sapindales
Họ (familia) Sapindaceae
Chi (genus) Litchi
Loài (species) L. chinensis
Danh pháp hai phần
Litchi chinensis
Sonn., 1782
Danh pháp đồng nghĩa
Vải quả (phần ăn được)
Giá trị dinh dưỡng 100 g (3,5 oz)
Năng lượng 276 kJ (66 kcal)
Cacbohydrat 16.5 g
Chất xơ thực phẩm 1.3 g
Chất béo 0.4 g
Protein 0.8 g
Vitamin C 72 mg (120%)
Canxi 5 mg (1%)
Magie 10 mg (3%)
Phospho 31 mg (4%)
Phần ăn được chiếm 60% khối lượng quả
Tỷ lệ phần trăm theo lượng hấp thụ hàng ngày của người lớn.
Nguồn: Cơ sở dữ liệu USDA

Vải thiều hay còn có tên Thanh Hà lệ chi chữ Hán: 清河荔枝 là loại quả vải nổi tiếng ở huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Sau này giống vải thiều được nhân giống trồng ở nhiều khu vực khác trong cả nước như huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương, huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh, hay huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang. Vải thiều Thanh Hà đã được ủy ban nhân dân huyện Thanh Hà, Sở khoa học Công nghệ Hải Dương tiến hành đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm này lên Cục Sở hữu trí tuệ. Theo đó, vải thiều Thanh Hà sẽ là một trong số ít sản phẩm nổi tiếng như: chè xanh Mộc Châu, cà phê Buôn Mê Thuột, nước mắm Phú Quốc…, được bảo hộ chỉ dẫn địa lý đến thời điểm hiện tại ở VN.[1]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguồn gốc cây vải ở Việt Nam

Vào thời Bắc thuộc, người Trung Quốc đã đem vải (lúc này chưa được gọi là vải thiều) sang trồng ở miền Châu Hoan (Thanh Hóa) Giao Chỉ (thời Đường). Do có điều kiện sinh thái phù hợp nên vải phát triển tốt cho năng suất cao. Dương Quý Phi - một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc rất thích vải được trồng ở Giao Chỉ. Vì vậy, mỗi năm nhân dân phải đem cống nộp vải thiều cùng với các sản vật khác đến kinh đô Trường An.

Đến thế kỷ thứ 8 từ thời vua Mai Hắc Đế, cây vải được chuyển ra trồng ở vùng Hồng Châu, Hải Dương ngày nay. Không rõ ai đã mang chúng trồng thử chắc với mục đích mang cống Bắc Triều cho tiện hơn chăng (Thời Bắc thuộc nước ta đã có thời bị lệ thuộc vào lệ cống nạp Lệ chi - quả vải).

Vùng đất Thanh Hà có thổ nhưỡng khá đặc biệt, bao bọc xung quanh bởi các con sông trong hệ thống sông Thái Bình và sông Hồng, thuở xưa rất hay bị lụt lội, tuy nhiên cũng vì vậy mà được phù xa bồi đắp, rửa chua khua mặn nên hình như vậy đất trở lên ngọt ngào hơn chăng? Cây lệ chi (tiếng cổ của cây vải) nhanh chóng được trồng trên đất Thanh Hà và không ngờ đất đã cho quả hương vị đặc biệt ngon.[2]

  • Nguồn gốc cây vải thiều Thanh Hà
Cây vải tổ tại xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương

Giống vải đầu tiên ở Thanh Hà được mang từ Thanh Hóa ra trồng trong thế kỷ thứ 8. Giống vải thứ hai ở Thanh Hà xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ 20, và đây là nguồn gốc của vải thiều. Trong những năm cuối thế kỷ 19 hoặc đầu thế kỷ 20, cụ Hoàng Phúc Thành (quê Thanh Hà, Hải Dương) từng làm phu khuân vác ở cảng Hải Phòng. Thấy mấy ông lái buôn người Trung Quốc quê ở Thiều Châu ăn quả vải rồi vứt hạt đi, cụ Thành đã nhặt được 6 hạt, đem về quê ương giống và mọc được 3 cây. Khi dọn cỏ, cụ bà sơ ý làm chết mất 2 cây, chỉ còn 1 cây. Đó chính là cây vải thiều đầu tiên ở nước ta. Rồi từ đó, chiết cành ra để trồng thêm, số cây vải và số vườn vải càng ngày càng tăng thêm. Con cháu và họ hàng nhớ ơn cụ Thành nên đã xây dựng miếu thờ cụ bên cạnh cây vải tổ. Vì có nguồn gốc như thế nên nó có tên là vải thiều, nhưng chưa hẳn là nòi vải ở Thiều Châu.

Cây vải tổ này hiện nay vẫn còn và đang thuộc quyền sở hữu của cụ Hoàng Văn Thu, (cháu nội cụ Thành), sinh năm Canh ngọ,1930 ở thôn Thuý Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Trên tấm bia bằng bê tông trước cây vải tổ, ghi tên cụ là Hoàng Văn Cơm. Cụ Thu giải thích rằng, vì cụ Thành đem được giống vải thiều về trồng ở quê nhà, cũng là đem cơm gạo về cho dân làng nên mọi người gọi cụ là cụ Cơm.[3]

Ngày nay, vải thiều được nhân giống sang một số nơi khác trên cả nước như Lục Ngạn - Bắc Giang, Chí Linh - Hải Dương và nhiều địa phương khác...

Giống vải được ưa chuộng nhất ở Việt Nam là vải thiều trồng tại khu vực huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Quả thu hoạch từ các cây vải trồng trong khu vực này thông thường có hương vị thơm và ngọt hơn vải được trồng ở các khu vực khác (mặc dù cũng lấy giống từ đây). Một giống vải khác, chín sớm hơn, có tên gọi dân gian là (vải) tu hú có hạt to hơn và vị chua hơn so với vải thiều. Nó có tên gọi như vậy có lẽ là do gắn liền với sự trở lại của một loài chim di cư là chim tu hú.

Hiện tại, ở Việt Nam thì chỉ có 2 huyện trồng nhiều vải nhất đó là Huyện Thanh Hà - Hải Dương (nguồn ngốc trồng cây vải Thiều đầu tiên ở Việt Nam), và Huyện Lục Ngạn - Bắc Giang. Sản lượng ở Lục Ngạn Bắc Giang nhiều hơn, quả to, ngọt, và giá bán cao hơn...

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Vải Thiều Thanh Hà chín

Nhận dạng chung về vải thiều Thanh Hà: là giống có kích thước quả bé nhất trong tất cả các giống vải hiện nay, dạng quả hơi tròn. Chiều cao quả 3,3 – 3,4cm, chiều rộng quả 3,4 – 3,5cm, tỷ lệ cao quả/ rộng quả 0,94 – 0,98. Quả nhỏ, vỏ sần, chín màu đỏ, hạt rất màu đen tuyền hoặc không hạt, cùi trắng dày ăn rất ngọt, hương vị thơm đặc biệt. Quả nặng 18 - 20g, tỷ lệ cùi 72 - 80% thịt hơi nhão, khi bóc vỏ dễ vỡ nước, mùi thơm. Hạt vải thiều gần như bị triệt tiêu, xun lại chứ không thành hạt như vải bình thường. Vải cho vào miệng sẽ cho cảm giác như tự tan ra, không cảm thấy vị se, vị chua, chát, cứ ngọt dần, ngọt dần...[4]

Vải thiều Thanh Hà hột nhỏ, màu nâu đen, cây vải tuổi càng cao thì hạt càng nhỏ, có nhiều trái gần như không có hạt và lớp cùi dày ngọt lịm, đầy nước. Giữa cùi và hạt vải thiều không có lớp màng mỏng nâu nâu chan chát như vải Lục Ngạn. Vải Thanh Hà chất lượng ngon, nên giá bán cao hơn các loại vải khác.[5]

Từ 10 tuổi trở lên, cây vải ra hoa đều và năng suất ổn định hơn. Trồng trên đất đồi vùng Trung du, nếu chăm bón tốt, nhất là bón thêm lân và phân hữu cơ, có thể cho năng suất cao. Vải ra hoa vào tháng 3 dương lịch và chín vào tháng 6.

Khoảng thời gian thu hoạch vải thiều thường ngắn, khoảng 2 tuần. Vì vậy nên với sản lượng lớn, người ta thường chế biến bằng cách sấy khô, sản phẩm sau đó gọi là vải khô.

Phương pháp bảo quản[sửa | sửa mã nguồn]

Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng Bảo hộ chỉ dẫn địa lý số 0009 ngày 25 tháng 5 năm 2007 cho sản phẩm vải thiều Thanh Hà[6]

Khoảng thời gian thu hoạch vải thiều thường ngắn, khoảng 2 tuần. Do vậy công nghệ bảo quản rất quan trọng. Có 02 phương pháp bảo quản chính: 1. Phương pháp sấy khô thủ công: Cho ra những quả vải sấy, thường dùng làm thuốc hoặc mứt. Tuy nhiên đã ít sử dụng. 2.Phương pháp bảo quản tươi đông lạnh: Vải tươi bó từng chùm nhúng vào nước thùng nước đá cây ngâm khoảng 5 phút cho lạnh, bỏ vào thùng xốp loại 15,25 và 30 kg, bỏ nước đá bọc trong túi ni long ở giữa, xếp vải xung quanh. Ngoài ra có thể dùng chăn ẩm,màng mút tẩm nước lạnh bọc ngoài lớp nilon đá tránh để vải tiếp xúc trực tiếp với đá lạnh đề phòng vải bị thâm. Với cách bảo quản mới, ở Lục Ngạn đã gần như loại bỏ phương pháp sấy khô vải, mà chuyển sang cung cấp vải tươi bằng cách: Đóng thùng xốp cách nhiệt, túi bóng, trong đó là đá lạnh bảo ôn, có thể giữ vải thiều tươi ngon trong khoảng 10 ngày kể từ ngày thu hoạch. Ngày nay, chỉ những vải rụng, vải ế, vải không đủ chất lượng hàng tươi thì mới được đưa vào sấy vải mà thôi.[7]

Thị trường tiêu thụ[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại, thị trường tiêu thụ chính của vải thiều vẫn là thị trường nội địa trong nước, còn lại một phần xuất khẩu sang Trung Quốc, Campuchia, và một số nước Châu Âu. Vào mùa vải, khoảng giữa tháng 6 là các container lớn thường về thị trấn và các địa điểm mua bán vải thiều rồi chở đi các thành phố lớn tiêu thụ.

Vì mùa vải chỉ kéo dài trong khoảng thời gian ngắn, với số lượng khá nhiều nên việc tìm đầu ra cho sản phẩm đang là bài toán nan giải đối với người dân trồng vải và các cơ quan chức năng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]