Viêm ruột

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bệnh viêm ruột gồm có hai dạng chính: bệnh viêm loét ruột kết mạn tính và bệnh Crohn[1][2][3].

  • Bệnh viêm ruột kết mạn tính: bệnh khu trú ở ruột kết và trực tràng, trong trường hợp bệnh nhẹ chỉ có trực tràng bị tổn thương. Trong trường hợp bệnh nặng, có loét rộng, có thể mất nhiều niêm mạc, có nguy cơ giãn kết tràng do độc và đó là biến chứng gây tử vong
  • Bệnh Crohn: được đặc trưng có những vùng của dạ dày-ruột bị dày lên, có viêm lan ra tất cả các lớp, loét sâu, lớp viêm mạc nứt nẻ và sự có mặt của u hạt. Chỗ tổn thương có thể ở bất kỳ chỗ nào của dạ dày-ruột, xem kẻ vào những vùng mô tương đối bình thường

Triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bệnh viêm ruột kết mạn tính: ỉa chảy, chảy máu trực tràng, những biểu hiện bên ngoài ruột giống như bệnh Crohn
  • Bệnh Crohn: đau bụng, ỉa chảy, sốt, sút cân, chảy máu trực tràng và những tổn thương ngoài ruột gồm tổn thương khớp, da, loét miệng, loạn chức năng gan

Điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù có nhiều điểm khác biệt nhau về nguyên nhân, triệu chứng nhưng cả hai dạng bệnh trên có những nguyên lý chung trong điều trị, những thuốc dùng là giống nhau

Các corticosteroid hoặc aminosalicylat là thuốc lựa chọn đầu tiên ở dạng bệnh hoạt động. Corticoid có hoạt tính rộng và là thuốc ưu tiên dùng trong những ca bệnh nặng nhất, liều dùng và đường dùng thuốc phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Với bệnh Crohn, chế độ ăn uống có vai trò quan trọng, nhưng với bệnh viêm ruột kết mạn tính thì chế độ ăn uống vai trò thấp hơn

Với những bệnh nhân có bệnh ở đoạn cuối của kết tràng hay ở trực tràng, thì có thể dùng thuốc tại chỗ như các thuốc đạn prendnisolon hay mesalazin là thích hợp. Nhưng đối với viêm kết trực tràng thì thuốc thụt thích hợp hơn với các dung dịch thụt mesalazin hay corticosteroid, dùng mesalazin đường trực tràng có hiệu quả hơn dùng corticosteroid đường trực tràng để điều trị viêm kết mạn tính loét. Việc dùng corticosteroid đường toàn thân chỉ dành riêng cho những bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp dùng tại chỗ

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Baumgart DC, Carding SR (2007). “Inflammatory bowel disease: cause and immunobiology.”. The Lancet 369 (9573): 1627–40. doi:10.1016/S0140-6736(07)60750-8. PMID 17499605. 
  2. ^ Baumgart DC, Sandborn WJ (2007). “Inflammatory bowel disease: clinical aspects and established and evolving therapies.”. The Lancet 369 (9573): 1641–57. doi:10.1016/S0140-6736(07)60751-X. PMID 17499606. 
  3. ^ Xavier RJ, Podolsky DK (2007). “Unravelling the pathogenesis of inflammatory bowel disease.”. Nature 448 (7152): 427–34. doi:10.1038/nature06005. PMID 17653185. 
  • Thuốc biệt dược & cách sử dụng, phần chuyên khảo, DS.Phạm Thiệp-DS.Vũ Ngọc Thuý, NXB Y Học 2005

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]