Viễn Châu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Viễn Châu
Tên khai sinh Huỳnh Trí Bá
Sinh 21 tháng 10, 1924 (89 tuổi)
Trà Vinh, Việt Nam
Tên khác Trương Văn Bảy, Bảy Bá
Nghề nghiệp Nghệ sĩ đàn tranh, tác giả, soạn giả cải lương
Hoạt động 1950 - nay

Nghệ sĩ Nhân dân Viễn Châu (sinh năm 1924) là một danh cầm đàn tranh và là soạn giả cải lương nổi tiếng tại Việt Nam. Ông được cho là người đã khai sinh ra thể loại cải lương tân cổ giao duyên và đã có công đào tạo ra nhiều thế hệ nghệ sĩ cải lương danh tiếng một thời.

Thân thế và khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Huỳnh Trí Bá, sinh ngày 21 tháng 10 năm 1924 tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Xuất thân trong gia đình vọng tộc, thân phụ là Hương cả[1], là con thứ sáu trong gia đình, ông còn có tên là Bảy Bá theo thông lệ người miền Nam.

Thuở nhỏ, ông học quốc văn ở trường làng và học Hán văn với những bậc túc nho ở tại nhà. Ngoài ra, khi còn học ở trường, ông đã mê đờn ca, cả tân lẫn cổ, thường có mặt trong các buổi đờn ca tài tử, hoặc cùng bạn bè tổ chức đờn ca. Ông mày mò những ngón đờn học lỏm qua đĩa hát nhựa cũng như các nhóm đờn ca tài tử ở làng quê[1]. Đến năm 19 tuổi, ông đàn thạo các loại đàn tranh, violon, guitar và được nhiều người khen ngợi.

Năm 1942, ông tham gia Ban cổ nhạc Ðài Phát thanh Pháp Á Sài Gòn. Tuy nhiên, dấu ấn đầu tiên trong sự nghiệp văn hóa nghệ thuật của ông là truyện ngắn đầu tay “Chàng trẻ tuổi” được đăng trên báo Dân Mới và bài thơ “Thời mộng” được đăng trên báo Tổng xã mới trong năm đó.

Cuối năm 1943, ông theo đoàn Tố Như lưu diễn. Hai tháng sau, ông tham gia gánh ca kịch của Năm Châu ra Hà Nội lưu diễn. Trên bước đường nghệ thuật của mình, ông có cơ hội tiếp xúc với các nghệ sĩ tài danh bấy giờ như Năm Châu, Lê Hoài Nở, Trần Hữu Trang, Duy Lân... và học hỏi được nhiều kỹ năng về tư duy sáng tác.

Tuy nhiên, "chuyến lưu diễn" của ông nhanh chóng kết thúc khi đoàn vừa về tới Sài Gòn thì một người anh kế của ông là Huỳnh Thanh Tòng bắt ông về quê, không cho theo đoàn hát nữa.

Bước gian truân của người nghệ sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1945, Pháp nổ súng tái chiếm Đông Dương. Bấy giờ, ông đã viết vở cải lương đầu tay “Hồn chiến sĩ”, với nội dung cổ vũ cho cuộc Kháng chiến chống Pháp. Vở tuồng đã được Ủy ban Kháng chiến hành chánh quận Trà Cú (lúc bấy giờ là quận Trần Chí Nam) tổ chức biểu diễn bán vé để góp quỹ kháng chiến.

Năm 1946, quân Pháp kiểm soát phần lớn vùng Trà Vinh. Người anh Huỳnh Thanh Tòng của ông bị quân Pháp bắt và bị bức tử ở đồn Long Toàn (Trà Vinh). Để tránh bắt bớ do từng cầm súng chống Pháp, ông bỏ xứ Đôn Châu lên Vĩnh Long tá túc trong nhà một người bạn rồi sau đó phiêu bạt lên Sài Gòn, tìm đến đoàn Năm Châu (lúc này đổi tên là đoàn Con Tằm) để nương nhờ và theo nghiệp nghệ thuật cải lương từ đó.

Tại Sài Gòn, ông bí mật hoạt động cho Ban công tác thành ở Sài Gòn. Không lâu sau, ông bị người Pháp bắt giữ cùng với 4 người khác để khai thác. Mặc dù không đủ bằng chứng kết tội, ông vẫn bị giam giữ mà không xét xử, sau đó bị đày đi an trí ở Cẩm Giang (Tây Ninh).

Mãi đến cuối năm 1949, ông mới được trả tự do. Ông mới trốn thoát và trở lại Sài Gòn, lại tìm đến đoàn Con Tằm với cái tên mới Trương Văn Bảy. Năm 1950, ông viết vở cải lương “Nát cánh hoa rừng” với bút danh Viễn Châu[2], phóng tác từ truyện đường rừng của Khái Hưng. Đây là vở cải lương đầu tiên của ông được đoàn Việt kịch Năm Châu trình diễn trên sân khấu đại ban tại Sài Gòn cũng trong năm 1950, được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt.[3]

Từ đó, tên tuổi Viễn Châu bắt đầu được giới mộ điệu chú ý. Các tác phẩm biểu diễn đàn tranh của ông được nhiều hãng đĩa thu thanh và phát hành liên tục. Đương thời, ngón đờn tranh Bảy Bá được xem là một trong 3 ngón đờn cổ nhạc đã được giới mộ điệu đánh giá cao và coi như bậc thầy là Năm Cơ (đàn sến) - Bảy Bá (đàn tranh) - Văn Vỹ (guitar phím lõm)[4][5]. Ngoài đoàn Việt kịch Năm Châu, ông còn cộng tác với các đoàn hát: Kim Thanh Út Trà Ôn (1955), Thanh Tao (1958), Thanh Nga (1962), Dạ Lý Hương (1969), Tân Hoa Lan (1969). Đồng thời, ông còn cộng tác với các hãng đĩa Việt Nam (1950), Kim Long (1951), Việt Hải (1953), Thăng Long (1954), Sống Mới (1968), Nhạc ngày xanh (1969), Hồn nước (1973, của Ngọc Chánh sản xuất băng từ),…

Sau năm 1975, ông cộng tác với Đoàn Văn công (1975), hãng băng Sài Gòn Audio (1978) và nhiều đoàn hát ở các tỉnh. Năm 1984, ông cùng đoàn nghệ thuật 284 lưu diễn ở các nước Tây Âu như: Đức, Bỉ, Pháp, Ý.

Cả cuộc đời ông từ năm 1950 trở đi toàn tâm ý dồn hết cho nghệ thuật cải lương. Mặc dù tuổi cao và bệnh trọng, nhưng ông vẫn miệt mài sáng tác. Ông đang hoàn tất quyển hồi ký về cuộc đời và sự nghiệp của mình[6]. Theo một học trò của ông, Nghệ sĩ Ưu tú Phương Quang, ông từng dặn con trai mình là nhạc sĩ Trương Minh Châu[7]: “Ba chết, nhớ bỏ vô quan tài một mớ giấy, bút để xuống đó ba viết bài vọng cổ”.[8]

Cha đẻ của Tân cổ giao duyên[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được mệnh danh là vua của các vị vua cải lương, "là người tạo danh cho các nghệ sĩ", bởi qua nhiều sáng tác của ông, nhiều nghệ sĩ khi thể hiện đã được cái ưa thích để đông đảo người xem chú ý hơn, ví dụ như: Mỹ Châu với bài "Hòn vọng phu", Út Trà Ôn với "Tình anh bán chiếu",... Bên cạnh đó, ông cũng sáng tác ra nhiều bài vọng cổ hài hước mà sau này được nhiều gương mặt nổi danh như nghệ sĩ Văn Hường, Hề Sa,...

"Không có Viễn Châu là không có Ngọc Giàu cũng như gần hết các tên tuổi cải lương nổi tiếng của cải lương thời hoàng kim."

Nghệ sĩ Nhân dân Ngọc Giàu[9]

"Nhờ bài vọng cổ “Tình anh bán chiếu” mà Ngã Bảy Phụng Hiệp được nổi danh khắp vùng Nam bộ nên địa phương rất biết ơn soạn giả Viễn Châu!"

—Lê Phú Khải, dẫn lời một lãnh đạo Huyện ủy Phụng Hiệp (Báo Cần Thơ)[10]

Một sáng tạo của Viễn Châu có ý nghĩa đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật là việc ghép tân nhạc vào bản vọng cổ mà ông gọi là “Tân cổ giao duyên”. Bản Tân cổ giao duyên đầu tiên của ông có tựa “Chàng là ai” (tân nhạc Nguyễn Hữu Thiết), sáng tác từ năm 1958, do Lệ Thủy ca vào năm 1964[1]. Dù thể loại mới này đã gây ra nhiều tranh cãi trên báo chí thời bấy giờ, nhưng sức tồn tại của nó cũng như sự hâm mộ của công chúng là bằng chứng cụ thể nhất đối với Tân cổ giao duyên.

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú năm 1988 và Nghệ sĩ Nhân dân năm 2012 để tôn vinh những đóng góp và thành tựu nghệ thuật của ông.

Một số tác phẩm tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Hơn 50 năm sáng tác, ông đã để lại một kho tàng tác phẩm đồ sộ. Trên 50 vở cải lương đã được trình diễn trên các sân khấu đại ban và trên 2000 bản vọng cổ đã được các hãng đĩa, băng thu thanh và phát hành. Toàn bộ tác phẩm đều đã được đăng ký bản quyền[11]. Dưới đây chỉ là một số tác phẩm tiêu biểu:

Tuồng cải lương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nát cánh hoa rừng
  • Tình mẫu tử
  • Đời cô Nga
  • Sau bức màn nhung
  • Bông ô môi
  • Chuyện tình Hàn Mặc Tử
  • Chuyện tình Lan và Điệp
  • Quân vương và thiếp
  • Qua cơn ác mộng
  • Nợ tình
  • Hoa Mộc Lan
  • Con gái Hoa Mộc Lan
  • Hai nụ cười xuân
  • Ai điên ai tỉnh

...

Bản vọng cổ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tình anh bán chiếu
  • Sầu vương ý nhạc
  • Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà
  • Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài
  • Tần Quỳnh khóc bạn
  • Lá trầu xanh
  • Lòng dạ đàn bà
  • Lan và Điệp
  • Hàn Mặc Tử
  • Tâm sự Mai Đình
  • Tâm sự Mộng Cầm
  • Xuân đất khách
  • Tu là cội phúc
  • Gánh nước đêm trăng
  • Đêm khuya trông chồng
  • Mẹ dạy con
  • Phạm Lãi biệt Tây Thi
  • Phàn Lê Huê
  • Tự Đức khóc Bằng Phi
  • Ai ra xứ Huế
  • Đêm tàn Bến Ngự
  • Hán Đế biệt Chiêu Quân
  • Dương Quý Phi
  • Kiếp cầm ca
  • Đời vũ nữ
  • Các bài vọng cổ hài viết riêng cho Văn Hường

...

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]