Việt Bắc (bài thơ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xem các nghĩa khác về Việt Bắc tại bài Việt Bắc (định hướng)

Việt Bắc là một bài thơ lục bát dài 150 câu, cấu trúc theo hình thức đối đáp của lối hát giao duyên trong dân ca, do nhà thơ Tố Hữu sáng tác năm 1954 và được xuất bản trong tập thơ mang tên Việt Bắc.

Hoàn cảnh sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève về Đông Dương được kí kết (tháng 7 năm 1954), hòa bình trở lại. Tháng 10 năm 1954, Hồ Chí Minh, các cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Việt Namchính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội, nhân sự kiện có tính chất lịch sử này Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Phần đầu bài thơ tái hiện một giai đoạn gian khổ nhưng vẻ vang của cách mạngkháng chiến ở chiến khu Việt Bắc, nay đã trở thành những kỉ niệm sâu nặng trong lòng người. Phần tiếp theo nói lên sự gắn bó giữa miền ngược và miền xuôi trong một viễn cảnh hòa bình tươi sáng của đất nước. Và cuối cùng, bài thơ kết thúc bằng lời ca ngợi công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng đối với dân tộc.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Về nội dung, là một bài thơ trữ tình cách mạng, Tố Hữu đã diễn tả một cách hình tượng hóa trong bài thơ Việt Bắc mối tình trong 15 năm của hai nhân vật văn học là chiến khu Việt Bắc với người cán bộ cách mạng, như một mối tình riêng mà người cán bộ cách mạng và Việt Bắc là đôi bạn tình. Buổi chia tay ngậm ngùi, da diết và nhớ nhung[1]:

Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Bài thơ cũng đồng thời thể hiện niềm tin yêu, hy vọng tràn đầy vào viễn ảnh tươi sáng của dân tộc từ cán bộ, đồng bào với chiến khu Việt Bắc, với cụ Hồ, với cách mạng:

Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc, cụ Hồ sáng soi.
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền

Về nghệ thuật, bài thơ Việt Bắc sử dụng thể thơ lục bát với những hình ảnh ví von, so sánh gần với lời ăn tiếng nói của dân tộc. Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh và nhạc điệu, âm hưởng trữ tình, tha thiết:

Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu...
...Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Những trường đoạn trong bài gần gũi như những câu ca dao, giọng điệu kể chuyện kết hợp đối thoại mình với ta, tương tự cách thức thể hiện của những bài hát đối[2]:

Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đông còn nhớ bản làng?
Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?
Mình đi ta hỏi thăm chừng
Bao giờ Việt Bắc tưng bừng thêm vui?

Tranh luận về tập thơ Việt Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Trên tờ Văn nghệ số 67 ra ngày 1 tháng 4 năm 1955, trong bài Tập thơ Việt Bắc thiếu chất sống thực tế Hoàng Cầm đã phê phán bài thơ Việt Bắc với những nhận định: "cô đơn vắng vẻ, đó là hai cảm giác của bài thơ gợi ra"; "...trả lời thì gượng quá và hơi loanh quanh" (Ðường về đây đó gần thôi / Hôm nay rời bản về nơi thị thành); "...bài thơ "Việt Bắc" đã dựng lên cảnh chia ly ấy và bồi thêm mũi kim đau xót vào chỗ yếu đuối nhất của lòng người"; và "bài thơ vớt vát lại ở hai câu kết giả tạo, gượng ép" (Cầm tay nhau hát vui chung / Hôm sau mình nhé, hát cùng Thủ đô)[3].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sách giáo khoa Văn học 12, tập 1, chỉnh lý hợp nhất năm 2000. Hoàng Như Mai, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Long, Trần Hữu Tá biên soạn.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]