Việt Thường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Việt Thường là một quốc gia có phạm vi tương ứng với vùng Nghệ AnHà Tĩnh ngày nay ở Việt Nam. Trung tâm của nhà nước Việt Thường Thị là Hồng Lĩnh ngày nay, phía Bắc giáp với Văn Lang (trước đó gọi là Xích Quỷ), phía Nam liền với nước Hồ Tôn (từ Quảng Bình trở vào). Việt Thường hình thành trên cơ sở của các bộ lạc sau khi giải thể xã hội nguyên thủy, bước vào ngưỡng của xã hội văn minh đầu tiên – tức xã hội nô lệ gia trưởng.

Nhà nước Việt Thường Thị xuất hiện vào đầu thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên. Sách Việt sử lược chép: Đến đời Thành Vương nhà Chu (1042 – 1021 TCN), Việt Thường Thị mới đem dâng con chim trĩ trắng. Như vậy Việt Thường thị xuất hiện sau Văn Lang của Hùng Vương khoảng 1800 năm.

Trong Việt Nam sử lược, tác giả Trần Trọng Kim viết: ... sử Tàu có chép rằng năm tân mão (1109 trước Tây lịch), đời vua Thành Vương nhà Chu, có nước Việt Thường, ở phía nam xứ Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải tìm người làm thông ngôn mới hiểu được tiếng, và ông Chu Công Đán lại chế ra xe chỉ nam để đem sứ Việt Thường về nước...

Sau đó, trong liên minh các bộ lạc Văn Lang, một trong 15 bộ cũng có tên là Việt Thường và là bộ quan trọng thứ hai của nước Văn Lang. Truyền thuyết nhắc lại rằng vùng Hồng Lĩnh là nơi Hùng Vương định đặt đô, mà Hồng Lĩnh là trung tâm của Việt Thường thị, sau là huyện Việt Thường tồn tại cho đến hết niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên.

Tuy nhiên, theo nhà sử học Đào Duy Anh thì Việt Thường không phải là 1 xứ của riêng Việt Nam. Ông cho biết:

"Sách Điền Hệ của Súy Phạm viết về các dân tộc thiểu số ở miền Vân Nam cho biết rằng một dân tộc thiểu số tên là Sản Lý hay Xa Ly, có truyền thuyết nói rằng đời Chu Thành vương họ sai sứ giả đến triều cống, khi về được Chu công cho xe chỉ nam, vì thế họ lấy tên là Xa Lý. Lại có một dân tộc khác là Lão Qua (Lào) có truyền thuyết rằng ở thời nhà Chu, tổ tiên của họ là nước Việt Thường. Sách Điền nam tạp chí thì nói Diến Điện (Mianma) là nước Việt Thường xưa. Những dân tộc kể trên nhận Việt Thường là tổ tiên xa của mình đều có thể là di duệ của người Di Việt, tức của người Việt tộc xưa cả. Do đó chúng ta có thể đoán rằng nước Việt Thường xưa, một nước của Việt tộc ở miền nam Dương Tử, có thể tồn tại thực, cho nên một số dân tộc di duệ của Việt tộc ngày nay, trong ấy có Việt Nam, vẫn còn ghi nhớ mà xem như nước tổ của mình"[1].

Ghi nhận sự tồn tại của nước Việt Thường trong lịch sử hình thành nên nước Việt Nam, ca cao dân gian có câu:

Tháng năm ngày tết Đoan Dương.
Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đào Duy Anh, Lịch sử cổ đại Việt Nam, NXB VHTT 2005, trang 218, 219

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Almanach – Lịch sử văn hóa truyền thống Việt Nam/ Tác giả: Tạ Ngọc Liễn. Nhà xuất bản Thanh Niên.
  • Việt sử lược, khuyết danh
  • An Nam chí lược, Lê Trắc
  • Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim