Vinalines Queen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phục vụ (Vinalines-ViệtNam) Flag of Vietnam.svg
Tên gọi: Vinalines Queen
Đặt tên theo: Công ty Vận tải biển Vinalines
Hãng đóng tàu: Nhật Bản
Đặt lườn: 2005
Hạ thủy: 2009
Nhập biên chế: Chuyển giao cho Tổng công ty hàng hải Việt Nam 5 tháng 12 năm 2011
Số phận: Bị đắm tại 20-00N; 123-47.1E ngày 25 tháng 12 năm 2011
Đặc điểm khái quát
Trọng tải choán nước: 56.040 tấn
Độ dài: 190 m (620 ft)
Sườn ngang: 32 m (105 ft)
Mớn nước: 6,6 m (22 ft)
Tốc độ: 15,4 / 13,7 hải lý
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
23

Vinalines Queen mang số hiệu XVHG, MMSI 574953000 với cùng 23 thuyền viên[1] là một tàu thủy chở hàng khô của Công ty vận tải biển Vinalines thuộc Tổng công ty hàng hải Việt Nam quản lý, được bàn giao vào ngày 5 tháng 12 năm 2011 và chính thức đi vào hoạt động.

Diễn biến vụ chìm tàu Vinalines Queen[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tối 22 tháng 12 năm 2011, tàu Vinalines Queen cùng 23 thuyền viên vận chuyển 54.400 tấn quặng Nikel rời cảng Morowali, Indonesia sang cảng Ningde, Trung Quốc, với tình trạng kỹ thuật và trang thiết bị bình thường.
  • Lúc 5h48 ngày 25 tháng 12 năm 2011, trong gió cấp 8-9, tàu thông báo nghiêng trái 20 độ, chưa rõ nguyên nhân. Thuyền trưởng chuyển hướng về vị trí an toàn gần Philippines. Một giờ sau, tàu báo độ nghiêng trái còn 18 độ, đang chạy về gần bờ biển Phillipines, rồi mất liên lạc.
  • Khoảng 7 giờ ngày 25 tháng 12 năm 2011 (giờ Việt Nam), tàu chạy vận tốc 6 hải lý 1 giờ thông báo còn nghiêng trái 18º tọa độ 20-00N; 123-47.1E(phía đông-bắc đảo Luzon - Philippines) - khu vực có độ sâu khoảng 5.000m hai phút sau, do nghiêng trái quá lớn kết hợp với sóng to, Vinalines Queen bị lật úp và chìm rất nhanh khiến các thuyền viên không kịp thoát hiểm. Một thủy thủ kịp bám vào phao cứu sinh, các thuyền viên khác mất tích chìm và mất liên lạc với trung tâm mặc dù đã sử dụng mọi hình thức như INM-C, INM-F, DSC.
  • Lúc 14h30 ngày 25 tháng 12 năm 2011, Vinalines thông báo cho Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam về việc tàu Vinalines Queen mất tín hiệu.
  • Chiều 26 tháng 12 năm 2011, thông tin Vinalines Queen mất tích cùng 23 thuyền viên được phát đi. Lực lượng cứu hộ Đài Loan 2 lần điều phương tiện ra hiện trường tìm kiếm nhưng do khu vực đó sóng gió rất lớn nên không hoạt động được.
  • Chiều ngày 27 tháng 12 năm 2011, Cục phòng vệ bờ biển Nhật Bản tìm kiếm và phát hiện vệt dầu loang gần tọa độ tàu báo nghiêng rồi mất tín hiệu.
  • Sáng ngày 28 tháng 12 năm 2011, trực thăng của Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản lại bay suốt 3 giờ quanh khu vực tàu Việt Nam mất tích nhưng vẫn chỉ thấy vệt dầu loang.
  • Ngày 29 tháng 12 năm 2011, việc tìm kiếm bằng trực thăng tạm ngừng. Nhiều chuyên gia cho rằng tàu chìm do quặng hóa lỏng không ổn định, gây mất thăng bằng trong điều kiện thời tiết xấu.
  • Đến 10h30 sáng 30 tháng 12 năm 2011, tàu London Courage đang trên đường tới Singapore thì phát hiện bè cứu sinh và thuyền viên tên Đậu Ngọc Hùng[1], là thủy thủ trên tàu Vinalines Queen bị chìm đã được tàu London Courage cứu. 22 thuyền viên còn lại chưa có tung tích.
  • Sáng ngày 4 tháng 1 năm 2012, tàu London Courage cập cảng Singapore. Thủy thủ Hùng được làm thủ tục về nước. Những ngày tiếp theo, lực lượng phòng vệ bờ biển của Nhật Bản, Philippines liên tục điều máy bay, tàu biển tìm kiếm các nạn nhân mất tích nhưng không có kết quả.

Danh sách thuyền viên tàu Vinalines Queen[sửa | sửa mã nguồn]

STT Họ & Tên Năm sinh Quê quán Chức danh
1 Nguyễn Văn Thiện[2] 1968 Hưng Yên Thuyền trưởng
2 Hồ Quang Đức 1981 Thái Bình Thuyền phó
3 Lê Quang Huy 1981 Yên Bái Phó 2
4 Vũ Đức Hạnh 1983 Hải Phòng Phó 3
5 Lê Bá Trúc 1953 Thanh Hóa Máy trưởng
6 Phạm Trung Tuyến 1977 Hải Phòng Máy 2
7 Đỗ Anh Đức 1980 Hải Phòng Máy 3
8 Quách Văn Hiếu 1982 Hải Phòng Máy 4
9 Đặng Văn Kiệm 1963 Hải Phòng Thủy thủ trưởng
10 Trần Đình Thư 1985 Hà Nội Thủy thủ chính thức
11 Đậu Ngọc Hùng 1980 Nghệ An Thủy thủ chính thức
12 Đặng Văn Sơn 1984 Hải Phòng Thủy thủ chính thức
13 Trần Đại Nghĩa 1984 Thanh Hóa Thủy thủ
14 Ngô Văn Lâm 1985 Hải Phòng Thủy thủ
15 Tống Văn Thử 1987 Thanh Hóa Thủy thủ
16 Nguyễn Kim Kiên 1985 Hải Phòng Sĩ quan vô tuyến
17 Vũ Thiện Phong 1987 Hải Phòng Thợ máy
18 Nguyễn Văn Duy 1985 Nam Định Thợ máy
19 Nguyễn Tài Phương 1984 Thanh Hóa Thợ máy
20 Bùi Văn Phúc 1987 Hải Phòng Thợ bảo dưỡng
21 Đỗ Văn Cường 1987 Hải Phòng Thợ bảo dưỡng
22 Trương Thanh Quyền 1986 Quảng Bình Bếp
23 Phạm Đức Hải 1987 Hải Phòng Phục vụ

Lý do tàu chìm[sửa | sửa mã nguồn]

Theo kết luận điều tra của Cục Hàng hải Việt Nam mà đã báo cáo cho Bộ Giao thông Vận tải, Vinalines Queen bị chìm vì hành trình trong điều kiện thời tiết xấu, nickel trên tàu hóa lỏng làm tàu bị nghiêng. Nhận định của thuyền trưởng về sự cố lại thiếu chính xác nên đã đưa ra những hành động không có hiệu quả khiến tàu chìm.[3]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]