Vitamin K

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vitamin K1 (phylloquinone). Hai dạng vitamin chứa vòng naphthoquinone chức năng và một chuỗi phụ béo. Phylloquinone có một chuỗi phụ phytyl.
Vitamin K2 (menaquinone). Trong menaquinone, một chuỗi phụ bao gồm một số thặng dư isoprenoid.

Vitamin K là một nhóm các vitamin hòa tan trong chất béo, giống nhau về cấu trúc mà cần cho có một vai trò quan trọng trong sự điều chỉnh sự đông đặc cúa máu, vitamin K là chất giúp chống lại sự băng huyết. Vitamin K hỗ trợ sự trao đổi chất của xương và trao đổi chất của canxi trong hệ thống mạch máu.

Có hai loại vitamin K dạng tự nhiên: Vitamin K1 hay còn gọi là phylloquinone được tìm thấy trong thức ăn tự nhiên. Vitamin K2 hay còn gọi là menaquinone. Dạng này được tạo ra bởi các loại vi khuẩn có ích ở trong ruột.

Có 3 dạng vitamin K tổng hợp được biết: các vitamin K3, K4, và K5. Dù vitamin K1 and K2 tự nhiên là không độc, dạng tổng hợp K3 (menadione) đã tỏ ra độc tính.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vitamin K đã được xác định năm 1929 bởi nhà khoa học người Đan Mạch Henrik Dam khi ông nghiên cứu vai trò của cholesterol khi cho gà ăn chế độ ăn uống không có cholesterol[2]. Sau vài tuần, những con gà này phát triển các chứng xuất huyết và bắt đầu chảy máu. Các khiếm khuyết này không thể được phục hồi bằng cách bổ sung cholesterol đã tinh chế vào chế độ ăn uống cho những con gà thí nghiệm. Điều đó chứng tỏ rằng cùng với cholesterol - một hợp chất thứ 2 đã được chiết xuất từ ​​thực phẩm, và hợp chất này được gọi là vitamin đông máu. Vitamin mới nhận được chữ K, vì những khám phá ban đầu được báo cáo trong một tạp chí Đức, trong đó nó đã được chỉ định là Koagulationsvitamin. Edward Adelbert Doisy của trường Đại học Saint Louis đã làm nhiều nghiên cứu và dẫn đến việc khám phá ra bản chất cấu trúc và hóa học của vitamin K.[3]. Dam và Doisy chia sẻ giải thưởng Nobel Y học-Sinh lý học năm 1943 về cho việc công bố công việc của họ về vitamin K (K1 và K2) xuất bản năm 1939. Những phát hiện về vitamin K đã mang đến giải Nobel Y học-Sinh lý học cho hai nhà khoa học Henrik DamEdward Adelbert Doisy vào năm 1943 [4]. Adelbert Doisy đã có công phát hiện Vitamin K vào năm 1927. TS. Dam đã lý giải được quy trình đông máu cần có Vitamin K. Ông còn phát hiện ra vitamin K có trong tất cả các loại rau quả và đậu như cà chua, đậu nành, cỏ linh lăng và một số động[5] vật[4]. Năm 1939, Doisy và cộng sự xác định cấu trúc của vitamin K. Đến năm 1943: Dam&Doisy nhận giải Nobel Sinh lý học-Y học từ việc khám phá ra vitamin K và vai trò của nó trong sự đông máu 1983: Price và cộng sự phát hiện khả năng ức chế sự vôi hoá của Matrix Gla-protein Cho đến năm 1997: Lou và cộng sự chứng minh vai trò của MGP đối với hệ tim mạch bằng cách gây đột biến trên chuột. 2007: Schurgers và cộng sự công bố khám phá về hoạt tính sinh học của Menaquinone-7 (MK-7), một dạng vitamin K2, được tạo ra trong quá trình lên men của vi khuẩn. MK-7 có trong các sản phẩm lên men từ đậu nành, sữa[3] 2008: Gast và cộng sự chứng minh khả năng cải thiện sức khoẻ tim mạch của MK-7[6]. Hiện nay, Vitamin K2 được sản xuất theo phương pháp truyền thống "Natto" với công nghệ tiên tiến tại Nhật Bản. Natto được làm từ đậu nành lên men là nguồn tự nhiên giàu Vitamin K2 nhất mang thương hiệu MenaQ7, một công nghệ độc quyền. MenaQ7 là vitamin K2 duy nhất có nguồn gốc thiên nhiên

Vitamin K1[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều trong các loại rau xanh (cải, bông cải,…), dầu thực vật (dầu đậu nành), trái cây (bơ, kiwi, nho,…). Tuy nhiên, chỉ 5-10% lượng vitamin K1 được hấp thu ở đường tiêu hoá từ nguồnt thực phẩm[7].
Vitamin K1 giữa vai trò hoạt hoá yếu tố đông máu ở gan.

Vitamin K2[sửa | sửa mã nguồn]

Công dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng cường chức năng của tế bào nội mô mạch máu, chống xơ vữa động mạch, chống tắc nghẽn mạch, tránh nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực
Kích hoạt protein osteocalcin, giúp gắn ion canxi vào khung xương, ngăn ngừa loãng xương. Kanellakis S và cộng sự (năm, 2012) đã công bố kết quả nghiên cứu hiệu quả của sự kết hợp canxi, vitamin D3 và vitamin K2 trong việc tăng mật độ khoáng trong xương ở 173 phụ nữ mãn kinh. Sau 12 tháng thử nghiệm, kết quả xử lý thống kê cho thấy mật độ khoáng trong xương cột sống của nhóm bổ sung 800 mg canxi, 10 mcg vitamin D3 và 100 mcg vitamin K2 tăng đáng kể so với nhóm đối chứng và cao hơn so với nhóm chỉ bổ sung canxi và vitamin D3

Cơ chế[sửa | sửa mã nguồn]

Vitamin K2 có vai trò hoạt hoá protein MGP, giúp MGP chuyển từ dạng bất hoạt (ucMGP) sang dạng hoạt động (cMGP). Ở trạng thái hoạt động (cMGP), protein này gắn với ion Ca trong máu, ngăn không cho chúng lắng đọng xuống thành mạch. Do đó ngăn ngừa vôi hoá mạch máu, giảm thiểu nguy cơ tắc nghẽn mạch máu do xơ vữa động mạch.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những phát hiện về vitamin K đã mang đến giải Nobel Y học-Sinh lý học cho hai nhà khoa học Henrik DamEdward Adelbert Doisy vào năm 1943 [4]. Adelbert Doisy đã có công phát hiện Vitamin K vào năm 1927. TS. Dam đã lý giải được quy trình đông máu cần có Vitamin K. Ông còn phát hiện ra vitamin K có trong tất cả các loại rau quả và đậu như cà chua, đậu nành, cỏ linh lăng và một số động vật[4]. Năm 1939, Doisy và cộng sự xác định cấu trúc của vitamin K. Đến năm 1943: Dam&Doisy nhận giải Nobel Sinh lý học-Y học từ việc khám phá ra vitamin K và vai trò của nó trong sự đông máu 1983: Price và cộng sự phát hiện khả năng ức chế sự vôi hoá của Matrix Gla-protein Cho đến năm 1997: Lou và cộng sự chứng minh vai trò của MGP đối với hệ tim mạch bằng cách gây đột biến trên chuột. 2007: Schurgers và cộng sự công bố khám phá về hoạt tính sinh học của Menaquinone-7 (MK-7), một dạng vitamin K2, được tạo ra trong quá trình lên men của vi khuẩn. MK-7 có trong các sản phẩm lên men từ đậu nành, sữa[3] 2008: Gast và cộng sự chứng minh khả năng cải thiện sức khoẻ tim mạch của MK-7[6]. Hiện nay, Vitamin K2 được sản xuất theo phương pháp truyền thống "Natto" với công nghệ tiên tiến tại Nhật Bản. Natto được làm từ đậu nành lên men là nguồn tự nhiên giàu Vitamin K2 nhất mang thương hiệu MenaQ7, một công nghệ độc quyền. MenaQ7 là vitamin K2 duy nhất có nguồn gốc thiên nhiên

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Higdon (tháng 2 năm 2008). “Vitamin K”. Linus Pauling Institute, Oregon State University. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2008. 
  2. ^ Dam, H. (1935). “The Antihæmorrhagic Vitamin of the Chick.: Occurrence And Chemical Nature”. Nature 135 (3417): 652–653. doi:10.1038/135652b0. 
  3. ^ MacCorquodale, D. W.; Binkley, S. B.; Thayer, S. A.; Doisy, E. A. (1939). “On the constitution of Vitamin K1”. Journal of the American Chemical Society 61 (7): 1928–1929. doi:10.1021/ja01876a510. 
  4. ^ a ă â b http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/medicine/laureates/1943/
  5. ^ http://www.momega.vn/lich-su/
  6. ^ a ă http://www.nmcd-journal.com/article/S0939-4753(08)00209-3/abstract
  7. ^ http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/16102054

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]