Voi chiến

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tranh Hai Bà Trưng đánh đuổi Tô Định (Tranh dân gian Đông Hồ).
The elephant's thick hide protected it from injury. The high riding position gave the rider a good view but made him a visible target.

Voi chiếnvoi được huấn luyện dưới sự chỉ huy của con người để giao chiến. Mục đích chính là tấn công đối phương, dày xéo và phá vỡ hàng ngũ của quân địch. Chúng được sử dụng đầu tiên ở Ấn Độ, sau phép dùng voi chiến lan sang vùng Đông Nam ÁTrung Đông tới tận Địa Trung Hải. Theo sử cũ Hy Lạp cổ đại, quân Ấn Độ đã dùng tượng binh chống trả khi Nữ hoàng Semiramis của Đế quốc Assyria mở cuộc hành chinh đánh sang Ấn Độ.[1] Cyrus Đại Đế của Đế quốc Ba Tư (530 TCN) và Alexandros Đại Đế của Vương quốc Macedonia (326 TCN) cũng phải gặp đoàn tượng binh của Ấn Độ.[2][3] Sử phương Tây còn ghi lại cuộc hành chinh nổi tiếng thời Hannibal vua xứ Carthage khi tướng Hy Lạp là Pyrros kéo quân vượt An Sơn đánh La Mã với một đoàn voi chiến hùng hậu. Tuy nhiên giá trị voi chiến ở phương Tây không được khai thác mấy, phần vì nguồn voi hoang bản địa ở vùng Địa Trung Hải giảm nhiều. Trong khi đó ở phương Đông với môi trường lý tưởng cho loài voi sinh sản thì mãi đến thế kỷ 19 khi súng đại bác xuất hiện thì voi chiến mới bị vô hiệu hóa. Loài voi từ đó chủ yếu chỉ dùng làm phương tiện chuyên chở, kéo gỗ v.v.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thuần hóa[sửa | sửa mã nguồn]

The Mughal Emperor Akbar is depicted training an elephant.

Loài voi đầu tiên được thuần hóa là Voi châu Á để sử dụng trong nông nghiệp. Việc thuần hóa voi - không phải là sự thuần hóa đầy đủ vì chúng vẫn còn bị bắt trong hoang dã,chứ không phải được gây giống trong tình trạng nuôi nhốt. Có thể đã bắt đầu ở một trong 3 vùng đất khác nhau. Những bằng chứng cổ xưa nhất của voi được thuần hóa là ở khu vực Lưỡng Hà đạo, khoảng 4.500 năm trước đây.[cần dẫn nguồn] Một khu vực khác là nền văn minh thung lũng sông Ấn, vào cùng khoảng thời gian này.[4] Những bằng chứng về sự hiện diện của voi hoang dã là ở khu vực thung lũng sông Hoàng Hà vào thời nhà Thương (1600-1100 TCN) cũng đã dẫn đến việc Trung Quốc đang được đề xuất như là một nơi bắt đầu của việc thuần dưỡng voi.[5] Số lượng voi hoang dã ở khu vực Lưỡng Hà và Trung Quốc đã suy giảm nhanh chóng do nạn phá rừng và sự gia tăng dân số: tới năm 850 TCN, loài voi ở Lưỡng Hà đã tuyệt chủng và ở Trung Quốc cho tới khoảng năm 500 TCN, loài voi đã bị suy giảm nghiêm trọng về số lượng và bị giới hạn ở khu vực phía nam sông Hoàng Hà.

Việc bắt voi trong thiên nhiên là một điều khó khăn nhưng cần thiết.

Thời cổ: Ba Tư, Ấn Độ và Alexandros Đại đế[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh thời Victoria cho thấy cuộc tấn công của voi chiến Trận đánh sông Hydaspes.

Thời điểm voi chiến được dùng trong chiến trận đến nay vẫn chưa được xác định. Trong những bài tán trong kinh Vệ Đà thời văn minh Ấn Độ cổ đại có niên đại vào khoảng một ngàn đến hai ngàn năm TCN có nhắc đến voi dùng là phương tiện vận chuyển. Trong đó có chuyện về Indra và con voi thần màu trắng, Airavata.[6] Tập truyện Mahabharata, có niên đại khoảng thế kỉ 8 TCN,[7]Ramayana (thế kỉ thứ 4 TCN) cũng ghi rằng voi được con người nuôi và dùng làm con vật chuyên chở nhưng không ghi gì về tượng binh hoặc việc dùng voi trong chiến trận.[8]

Thời kỳ cổ đại, văn minh Ấn Độ đề cao giá trị của loài voi trong chiến tranh. Họ ví rằng "Quân đội mà không có tượng binh thật đáng coi thường, khác gì rừng không có sư tử, nước không có vua, hay lòng can đảm mà đánh bằng tay không”. Theo nhà sử học Diodorus Siculus người Hy Lạp cổ đại, Nữ hoàng Semiramis của Đế quốc Assyria đã xua quân chinh phạt nước Ấn Độ.[3] Vị Quốc vương hùng mạnh và giàu có của Ấn Độ liền triệu tập một đội quân đông đảo để kháng chiến, và có một đội tượng binh hùng hậu. Mỗi con voi chiến có giá trị tương đương với cả một quân đoàn của các binh sĩ tinh nhuệ. Nữ hoàng Semiramis không có voi nên bà lo sợ bị Quốc vương Ấn Độ đánh bại. Bà cho giết rất nhiều thú nuôi có sừng và lột da chúng, cho khâu da chúng thành hình dạng của những con voi. Chúng được phủ lên những con lạc đà, và khi ra trận, chúng dễ làm người ta hoảng hồn vì tưởng là voi. Vua Ấn Độ bất ngờ vì Đế quốc Assyria vốn dĩ không có voi. Mở trận, Nữ hoàng Semiramis cùng đám tượng binh giả của bà xông vô đánh vua Ấn Độ cùng lực lượng tượng binh hùng hậu của ông. Lúc hai đoàn quân tiến sát vào nhau, quân Ấn Độ nhận thấy quân Assyria thực chất không có voi nào, và xung phong tấn công dữ dội vào Nữ hòang Semiramis và các binh sĩ Assyria. Quân Assyria đại bại thê thảm.[9]

Không những thế, theo sử sách "Persica" của nhà sử học Ctesias người Hy Lạp cổ đại,[10] voi chiến được sử dụng vào năm 530 TCN, trong một trận chiến diễn ra giữa Đế quốc Ba Tư dưới triều Hoàng đế Cyrus II nhà Achaemenes (còn gọi là Cyrus Đại Đế), và người Derbikes do vua Amoraios trị vì. Đây là ghi chép cụ thể đầu tiên cho thấy lực lượng tượng binh đã được sử dụng trong chiến tranh thời cổ.[2] Hoàng đế Cyrus Đại Đế đã kéo quân chinh phạt người Derbikes,[11] quân Ấn Độ liên minh với người Derbikes và phái tượng binh đến giúp họ. Trận đánh diễn ra tại phía Đông Bắc thượng nguồn sông Syr Darya[12], hai bên đánh nhau khốc liệt và đều hứng chịu tổn thất nặng nề. Nhờ có lực lượng tượng binh, vua Amoraios đánh thắng Hoàng đế Cyrus Đại Đế, Kỵ binh Ba Tư phải tháo chạy. Không những thua trận mà Hoàng đế Cyrus Đại Đế cũng ngã ngựa và một tên lính Ấn Độ phóng lao trúng ông, làm ông bị trọng thương. Binh sĩ Ba Tư mang ông vào trại lính, và tiếp tục chiến đấu khi có viện binh người Sacae kéo đến, tiêu diệt được vua Amoraios, hai cậu con trai cùng biết bao người Derbikes, và buộc người Derbikes phải thần phục nhà vua Ba Tư[10]. Ba ngày sau khi trúng lao và trọng thương, ông nói lời trăn trối, rồi cũng bỏ mạng.[13][14][15][16][17]

Từ Ấn Độ, việc sử dụng voi trong quân đội đã lan về phía Tây tới đế chế Ba tư, nơi chúng được sử dụng nhiều trong các chiến dịch và lần lượt ảnh hưởng đến các chiến dịch của Alexandros Đại đế. Sự chạm trán đầu tiên giữa người châu Âu và voi chiến Ba tư được ghi nhận tại trận Gaugamela (331 TCN), nơi người Ba Tư triển khai 15 voi chiến.[18] Những con voi được đặt tại trung tâm của hàng ngũ của quân Ba Tư, và tạo ra một ấn tượng đối với quân Macedonia, mà Alexandros cảm thấy cần phải hiến tế cho vị thần của sự sợ hãi vào tối hôm trước trận đánh - nhưng theo một số nguồn cho biết, những con voi này không thể triển khai trong trận chiến vì chúng đã phải hành quân dài ngày trước đó.[19] Alexandros Đại đế đã chiến thắng vang dội tại Gaugamela, nhưng đã ấn tượng sâu sắc với nhũng con voi của kẻ thù và đã chiếm lấy 15 con voi đầu tiên này vào quân đội của mình, tiếp tục bổ sung thêm một số nữa khi đánh chiếm phần còn lại của Ba tư.

Vào thời điểm Alexandros tiến tới biên giới Ấn Độ 5 năm sau, ông đã có một số lượng đáng kể voi dưới quyền của mình. Khi ông đến để đánh bại Porus, vua xứ Punjab của Pakistan ngày nay, Alexandros đã tự mình nhận thấy đối mặt với một lực lượng đáng kể từ 85 đến 100 con voi chiến[20][21] tại trận đánh sông Hydaspes. Alexandros đã diễn tập và tham gia chỉ với bộ binh và kị binh của ông, cuối cùng đánh bại lực lượng của Porus, bao gồm cả quân đoàn voi của ông ta, mặc dù chịu một số tổn thất. Tuy nhiên, khi tiến thêm về phía đông, Alexandros có thể thấy rằng đế quốc Magadha có thể triển khai đến 6000 voi chiến, một lực lượng lớn gấp nhiều lần số lượng phục vụ trong quân đội Ba Tư và Hy Lạp,mà đã làm nản lòng những người lính của Alexandros.[22] Ngày trở về, Alexandros Đại đế đã thành lập một lực lượng voi để bảo vệ cung điện của mình tại Babylon, và giao phó việc lãnh đạo các đơn vị voi của mình cho một viên Quản tượng.[19]

Eleazar Maccabeus giết voi chiến và bị đè chết bởi nó (Miniature from a manuscript Speculum Humanae Salvationis).

Sự thành công của các lực lượng sử dụng voi tiếp tục tăng lên. Những người thừa kế đế chế của Alexandros, những Diadochi, đã sử dụng hàng trăm voi chiến Ấn Độ trong những cuộc chiến tranh của họ. trong đó vương quốc Seleukos được đặc biệt đáng chú ý vì họ đã sử dụng của các loài động vật, chủ yếu được mang đến từ Ấn Độ. Thật vậy, chiến dịch giữa Seleukos và Chandragupta Maurya (Sandrokottos), người sáng lập đế chế Maurya trong năm 305 TCN đã kết thúc với việc Seleukos nhượng môt phần lãnh thổ rộng lớn phía đông để trao đổi với 500 voi chiến[23] - là một phần nhỏ của lực lượng Maurya,trong đó bao gồm lên đến 9.000 con voi theo một số nguồn..[24] Seleukos đã sử dụng những con voi của mình rất tốt trong trận Ipsus bốn năm sau đó. Sau này trong lịch sử của nó, vương quốc Seleukos còn sự dụng voi chiến để đàn áp cuộc nổi dậy Maccabee. Các con voi đã gây ra sự sợ hãi đối với những chiến binh Do thái trang bị nhẹ.Và người trẻ nhất trong số các anh em nhà Hasmonean, Eleazar Maccabeus, nổi tiếng vì đã đánh bại một trong những con tương tự trong trận Beth Zechariah, đã đâm ngọn giáo vào dưới bụng một con voi mà ông ta nhầm lẫn là có vua Antiochos V nhà Seleukos, giết chết con voi với cái giá phải trả là mạng sống của mình.[25]

Thời cổ đại: Địa Trung Hải[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ai CậpCarthage bắt đầu mua voi châu Phi cho cùng một mục đích, cũng như người NumidiaKushites. Loài được sử dụng là voi rừng châu Phi[26]. Những loài khác nhỏ hơn được sử dụng là voi châu Á bởi vương quốc Seleukos ở phía đông của vùng Địa Trung Hải, đặc biệt là ở Syria, có chiều cao từ 2.5-3.5 mét (8–10 ft). Có lẽ là một số voi Syria đã được bán ra nước ngoài, con voi yêu thích của Hannibal có cái tên rất ấn tượng là Surus ("người Syria"), có thể có nguồn gốc từ Syria, mặc dù các bằng chứng vẫn còn mơ hồ.[27]

Kể từ cuối những năm 1940 một số học giả đã cho rằng con voi rừng châu Phi được sử dụng bởi Numidia, thuộc triều đại Ptolemy và quân đội Punic đã không có tháp trong chiến đấu, có lẽ do sự yếu kém về thể chất của loài này [28]. Có lời ghi chép đương đại rõ ràng rằng quân đội của Juba I của Numidia bao gồm voi có tháp chiến đấu trong năm 46 TCN [29] Điều này được xác nhận bởi hình ảnh của một con voi châu Phi được trang bị tháp chiến đấu sử dụng trên tiền đúc của Juba II [30]. Điều này cũng xuất hiện trong trường hợp của quân đội Ptolemy : Polybius báo cáo rằng tại trận Raphia năm 217 TCN những con voi của Ptolemy IV mang theo tháp, những con vật nhỏ hơn so với voi châu Á của vương quốc Seleukos và voi rừng châu Phi có lẽ là như vậy [31] Có cũng có bằng chứng cho thấy con voi chiến tranh Carthage được trang bị tháp nhỏ và ghế nhỏ trên bành voi trong các ngữ cảnh quân sự nhất định.[32]

Dù trong quân sử vùng Địa Trung Hải, những cuộc chiến giữa quân Carthage và quân La Mã nổi tiếng hơn cả về sự tham chiến của lực lượng tượng binh, đây rõ là kết quả của việc sử dụng tượng binh của Vương quốc Ipiros thuộc nền văn minh Hy Lạp cổ xưa. Vua xứ Ipiros là Pyrros thân chinh mang 20 con voi chiến đi đánh quân La Mã trong trận đánh tại Heraclea vào năm 280 TCN, để lại thêm năm mươi con nữa, mượn từ Pharaoh Ptolemy II, trên đất liền. Người La Mã đã không chuẩn bị chống lại voi chiến, và các lực lượng Hy Lạp đánh bại người La Mã. Năm sau, người Hy Lạp một lần nữa triển khai một lực lượng voi tương tự, tấn công người La Mã tại trận Asculum. Thời gian này người La Mã có sự chuẩn bị với vũ khí dễ cháy và thiết bị chống voi : đó là những cỗ chiến xa do bò kéo, trang bị giáo dài để gây tổn thương cho voi, bình chứa lửa để đe dọa chúng.

Lấy cảm hứng từ những chiến thắng này, Carthage đã phát triển để sử dụng riêng cho mình những con voi chiến và triển khai chúng rộng rãi trong Chiến tranh Punic lần thứ nhất. Các kết quả đã không được như mong muốn. Tại Adyss trong năm 255 TCN, những chú voi Carthage đã không hiệu quả do địa hình, trong khi tại trận Panormus trong năm 251 TCN người La Mã đã có thể khiến những con voi Carthage hoảng sợ, mà chạy trốn khỏi chiến trường. Trong Chiến tranh Punic lần thứ hai, Hannibal nổi tiếng đã dẫn một đội quân voi chiến vượt dãy núi Alps - mặc dù không may là hầu hết trong số chúng thiệt mạng trong điều kiện khắc nghiệt. Người La Mã đã phát triển chiến thuật có hiệu quả chống voi chiến, dẫn đến thất bại của Hannibal tại trận chiến cuối cùng của ông ở Zama năm 202 trước Công nguyên, những con voi xung kích của ông là không hiệu quả vì người La Mã chỉ đơn giản là tách những trung đội thành những lối cho chúng vượt qua.

Rome đã mang về nhiều voi ở phần cuối của cuộc chiến tranh Punic, và sử dụng chúng trong các chiến dịch của mình trong nhiều năm sau đó. Các cuộc chinh phục ở Hy Lạp đã cho thấy nhiều trận đánh mà trong đó người La Mã đã triển khai voi chiến, bao gồm các cuộc xâm lược Macedonia vào năm 199 TCN, cuộc chiến ở Cynoscelphalae năm 197 TCN,[33] trận Thermopylae,[34]trận Magnesia năm 190 TCN, trong số năm mươi bốn con voi của Antiochos III đã rơi vào tay lực lượng La Mã tới mười sáu. Trong năm sau, người La Mã đã triển khai 22 con voi tại Pydna trong năm 168 TCN [35] Chúng cũng là lực lượng được sử dụng đặc trưng trong suốt chiến dịch La Mã chống lại người Celtiberia ở Hispania và chống lại người Gaul.

Lần sử dụng cuối cùng có ý nghĩa của những con voi chiến ở Địa Trung Hải là chống lại người La Mã tại trận Thapsus, 46 TCN, nơi mà Julius Caesar trang bị cho thứ năm Quân đoàn của ông(Alaudae) với rìu và ra lệnh cho những người lính Lê dương của mình tấn công vào chân của con voi. Thapsus là trận chiến cuối cùng có sử dụng voi ở phương Tây.[36]

A medieval Armenian miniature representing the Sassanid Persians War elephants in the Battle of Vartanantz.

Các triều Parthia của Ba Tư thỉnh thoảng sử dụng voi chiến trong trận chiến của họ chống lại Đế quốc La Mã[cần dẫn nguồn] nhưng những con voi đã có tầm quan trọng đáng kể trong quân đội của triều đại Sassanid tiếp theo.[37] Người Sassanids sử dụng nhiều loại động vật trong nhiều chiến dịch của họ chống lại kẻ thù phía Tây. Một trong những trận chiến đáng nhớ nhất là trận Vartanantz vào năm 451 CN, khi mà những voi Sassanid khiến người Armenia phải khiếp sợ. Một ví dụ khác là trận al-Qādisiyyah vào năm 636 CN, trong đó một lực lượng gồm 33 con voi đã được sử dụng, mặc dù không thành công, chống lại quân xâm lược Ả Rập.Những quân đoàn voi Sassanid đã giữ một vị trí ưu việt trong lực lượng kỵ binh của nhà Sassanid và đã được tuyển mộ từ Ấn Độ. Các quân đoàn voi nằm dưới sự chỉ huy của một vị chỉ huy đặc biệt, được gọi là Zend-hapet, hoặc "vị tướng của người Ấn Độ", hoặc bởi vì những con vật này đến từ quốc gia đó, hoặc bởi vì chúng chịu sự điều khiển bởi những người bản xứ của Hindustan [38].

Thời cổ đại : Viễn Đông[sửa | sửa mã nguồn]

War elephants in battle during the Carnatic Wars.

Ở Trung Quốc, việc sử dụng những con voi chiến tương đối hiếm so với các nơi khác[39][40]. Những ghi chép sớm nhất về việc sử dụng voi của họ diễn ra vào cuối năm 554 CN khi nhà Tây Ngụy triển khai hai con voi chiến mặc giáp sắt từ Lĩnh Nam trong trận chiến, điểu khiển bở những nô lệ Mã Lai, và được trang bị tháp bằng gỗ và những thanh gươm gắn chặt vào cái vòi của chúng.[39] Các con voi đã phải quay đầu bỏ chạy bởi các mũi tên của cung thủ ".[39]

So ranh, các quốc gia láng giềng cũng hết mực đề cao việc sử dụng tượng binh. Sử liệu xứ Tích Lan kể lại rằng những con voi được các nhà vua cưỡi khi thân chinh cầm quân xuất trận,[41] với ghi chép cụ thể về một vài ông vua trên lưng voi chiến. Thí dụ, trong trận đánh lịch sử vào năm 200 trước Công Nguyên, Quốc vương Dutugamunu cưỡi voi Kandula còn Quốc vương Elara thì cưỡi voi Maha Pambata, 'Tảng đá lớn'.[42] Ở miền Đông Nam Á, bên vùng biên cương cuả Việt Nam ngày nay, Quân đội Chiêm Thành đã triển khai đến 602 con voi chiến trong cuộc chiến tranh chống nhà Tùy bên Trung Hoa.[43]

Thời trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

A Romanesque painting of a war elephant. Spain, 11th century.

Trong thời Trung cổ, voi hiếm khi được sử dụng ở châu Âu. Charlemagne đã đem theo con voi của mình, Abul-Abbas, khi ông giao chiến với người Danes trong năm 804,[44] và trong một cuộc Thập Tự Chinh,Hoàng đế của đế chế La Mã Thần thánh Frederick II đã có cơ hội để bắt một con voi tại Đất Thánh, mà sau đó được sử dụng trong việc chiếm Cremona năm 1214, nhưng việc sử dụng của các cá thể đơn lẻ này mang nhiều ý nghĩa biểu tượng nhiều hơn thực tế.

The Khmer army waged war with elephants against the Cham in the 12th century.

Xa hơn về phía đông, voi tiếp tục được sử dụng trong chiến tranh. Người Mông Cổ phải đối mặt với voi chiến ở Khorazm, Miến Điện, Đại Việt và Ấn Độ trong suốt thế kỷ 13 [45] Bất chấp chiến bại của họ trong các cuộc xâm lược Đại Việt và Ấn Độ, quân Mông Cổ đã đánh bại những con voi chiến bên ngoài Samarkand bằng cách sử dụng máy lăng đá và mangonel, và ở Miến Điện bằng mưa tên từ những cây cung làm từ vật liệu tổng hợp nổi tiếng của họ [46] Thành Cát Tư HãnHốt Tất Liệt đã giữ lại những con voi bị bắt là một phần của đoàn tùy tùng của họ.[47] Một kẻ xâm lược trung Á khác, Timur đã phải đối mặt với những thách thức tương tự như một thế kỷ sau đó. Năm 1398, quân đội của Timur phải đối mặt với hơn 100 con voi Ấn Độ trong trận chiến và gần như suýt bại trận vì sự sợ hãi mà chúng gây ra giữa quân đội của ông. Tài liệu lịch sử nói rằng phe Timur cuối cùng giành chiến thắng bằng cách sử dụng một chiến lược khéo léo: Timur gắn rơm lửa lên lưng những con lạc đà của mình trước khi tấn công. Khói làm cho các con lạc đà chạy về phía trước, làm cho những voi hoảng sợ, khiến chúng nghiền nát quân đội của chính mình trong các nỗ lực rút chạy của chúng. Một ghi chép khác về chiến dịch rằng Timur đã sử dụng những cái chông sắt quá khổ để ngăn chặn những con voi đột kích [48] Sau đó, Timur đã sử dụng những con vật bị bắt này để chống lại Đế chế Ottoman.

Đã có ghi chép lại rằng vua Rajasinghe I, khi ông đã tiến hành bao vây pháo đài của người Bồ Đào Nha tại Colombo, Sri Lanka trong năm 1558, đã có một đội quân gồm 2200 voi chiến[49] Người Sri Lanka tiếp tục truyền thống tự hào của họ trong việc bắt và đào tạo những con voi từ thời cổ đại.. Viên quan phụ trách những chuồng ngựa hoàng gia, bao gồm cả việc bắt giữ voi, được gọi là Nilame Gajanayake,[49]

"The Great Battle of Yuthahatthi" - Siamese King Naresuan fights the Burmese crown prince near Suphanburi in Jan. 1593.

Ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nghi vệ voi chầu của triều đình Huế
Voi được đưa ra sân đấu tại Hổ quyền

Tại Việt Nam, kỹ thuật sử dụng voi chiến đã có từ khá sớm. Các tài liệu Việt Nam và Trung Quốc từng ghi nhận trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 đã sử dụng lực lượng voi chiến đánh lại quân nhà Đông Hán. Rất nhiều hình ảnh ghi nhận Hai Bà chỉ huy trên mình voi. Một hình ảnh tương tự ghi nhận rằng Bà Triệu cũng sử dụng voi chiến trong cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô (Tam Quốc).

Trong suốt lịch sử Việt Nam, voi chiến được xem là một lực lượng đặc biệt sử dụng trong chiến trận. Do thế phòng thủ trước các triều đại phương Bắc, vốn không có tượng binh, thì ưu thế của phía Việt Nam về lực lượng tượng binh là rõ rệt, dù không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả tuyệt đối. Có những trường hợp sử dụng tượng binh thành công như chiến dịch nghĩa quân Lam Sơn ra Bắc hay quân Tây Sơn công phá Ngọc Hồi nhưng cũng có những trận voi chiến bị vô hiệu hóa như trận đánh Bình Lệ Nguyên hay trận thành Đa Bang.Sự phát triển vượt bấc nhất chính là vua Quang Trung đã đặt pháo trên lưng voi trong chiến dịch đánh thành Ngọc Hồi làm quân Mãn Thanh phải khiếp sợ, bây giờ nhiều người vẫn nói đó là xe tăng đầu tiên ở Việt Nam.[cần dẫn nguồn] Tuy nhiên, thực tế là các lực lượng quân sự Việt Nam đã huấn luyện và sử dụng lực lượng tượng binh trong cả nghìn năm.

Khi hình thái chiến tranh hiện đại bắt đầu, voi chiến trở nên lỗi thời trước sức mạnh của đại bác. Tuy nhiên, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục huấn luyện lực lượng voi chiến trong đội tượng binh của quân đội nhà Nguyễn. Các cuộc tử chiến giữa voi và hổ nhằm tế thần trong ngày hội và phục vụ nhu cầu giải trí tiêu khiển cho vua, quan lại và người dân vẫn được tổ chức tại Hổ Quyền. Trận đấu cuối cùng được ghi nhận vào năm 1904, dưới triều vua Thành Thái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Samuel Griswold Goodrich, Parley's common school history of the world: A pictorial history of the world, ancient and modern, for the use of schools, trang 19
  2. ^ a ă Konstantin Nossov, War Elephants, trang 10
  3. ^ a ă Deborah Levine Gera, Warrior women: the anonymous Tractatus de mulieribus, trang 81
  4. ^ HISTORY OF THE DOMESTICATION OF ANIMAL
  5. ^ Schafer, 289–290.
  6. ^ The Vedic Pantheon
  7. ^ Sankalia, 1963.
  8. ^ Nossov, p. 10.
  9. ^ Samuel Griswold Goodrich, A pictorial history of the world, ancient and modern, for the use of schools, trang 19
  10. ^ a ă Amélie Kuhrt, The Persian Empire, Tập 2, trang 101
  11. ^ Saint Photius I (Patriarch of Constantinopolis), Nigel Guy Wilson, The bibliotheca: a selection, trang 56
  12. ^ A history of Greece, Volume 2, By Connop Thirlwall, Longmans, 1836, p. 174
  13. ^ Jan P. Stronk, Ctesias' Persian History: Part 1: Introduction, Text, and Translation, Phần 1, trang 317
  14. ^ Murray E. Fowler, Susan K. Mikota, The Asian Elephant: Ecology and Management, trang 15
  15. ^ R. Sukumar, The Asian Elephant: Ecology and Management, trang 3
  16. ^ Eneas Sweetland Dallas, Once a week, Tập 10, trang 348
  17. ^ John R. Gardiner-Garden, Ktesias on early Central Asian history and ethnography, trang 17
  18. ^ Chinnock, p.38.
  19. ^ a ă Nossov, p.19.
  20. ^ Quintus Curtius Rufus (60-70 AD). Historiae Alexandri Magni. 8.13.6.
  21. ^ Metz Epitome. 54.
  22. ^ Plutarch (75 CE), The Life of Alexander the Great
  23. ^ Fox, 2006.
  24. ^ Pliny, Natural History VI, 22.4.
  25. ^ 1 Maccabees, 6:43-46.
  26. ^ Loxodonta africana pharaohensis.
  27. ^ Nossov, p.30.
  28. ^ Scullard (1948); (1974) 240-45
  29. ^ Caesar, De Bello Africo 30.2, 41.2, 86.1.
  30. ^ J. Mazard, Corpus Nummorum Numidiae Mauretaniaeque (Paris 1955) 103, nº. 276, pl. 247
  31. ^ Polybius v.84.2-7
  32. ^ Rance (2009)
  33. ^ The Battle of Cynoscephalae
  34. ^ The Syrian Wars, IV,16-20. English translation from: Horace White ed., 1899.
  35. ^ Davis, p. 51.
  36. ^ Gowers, African Affairs.
  37. ^ Rance (2003); Charles (2007)
  38. ^ Rawlinson, p.189.
  39. ^ a ă â Schafer, p.290.
  40. ^ An earlier "isolated instance" (Schaefer, p.290), when "elephants with torches bound to their tail were sent into enemy ranks" does not comply to the given definition of a war elephant as a trained and guided war beast. Quite the contrary, the use of maddened and guideless animal missiles indicates that the Chinese then had not yet mastered the complex skills necessary for training and guiding elephants into combat.
  41. ^ Sri Lankan Elephants
  42. ^ War Against King Elara
  43. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ebrey_90
  44. ^ His Majesty's Elephant
  45. ^ Kistler, p.200.
  46. ^ Kistler, p.197.
  47. ^ Joregensen, Niderost and Rice, p.88.
  48. ^ Ahmed ibn Arabshah.
  49. ^ a ă http://artsrilanka.org/essays/elephants/index.html.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jan P. Stronk, Ctesias' Persian History: Part 1: Introduction, Text, and Translation, Phần 1, Wellem Verlag, 2010. ISBN 394182001X.
  • Amélie Kuhrt, The Persian Empire, Tập 2, Routledge, 2007. ISBN 0415436281.
  • Chakrvarti, P. The Art of War in Ancient India, (2003).
  • Charles, Michael B. "The Rise of the Sassanian Elephant Corps: Elephants and the Later Roman Empire", Iranica Antiqua 42 (2007) 301-346.
  • Chinnock, E. J. The Anabasis of Alexander: The Battle of Gaugamela by Arrian (trans).
  • Davis, Paul K. 100 Decisive Battles from Ancient Times to the Present: The World’s Major Battles and How They Shaped History. (1999)
  • Ebrey, Patricia Buckley, Anne Walthall, James Palais (2006). East Asia: A Cultural, Social, and Political History. Boston: Houghton Mifflin Company. ISBN 0-618-13384-4.
  • Fox, Robin L. Alexander the Great, Penguin (2004) ISBN 0-14-102076-8.
  • Goldworthy, Adrian The Fall of Carthage: The Punic Wars 265-146 BCE, Orion (2003) ISBN 0-304-36642-0.
  • Gowers, William "The African Elephant in Warfare," African Affairs, Vol. 46 No. 182.
  • Jayawardhene, Jayantha Elephant in Sri Lanka (1910).
  • Keegan, John History of Warfare, Pimlico (1993) ISBN 0-679-73082-6.
  • Kistler, John M. War Elephants, Westport, CT: Praeger, (2006).
  • Joregensen, Christer, Eric Niderost and Rob S. Rice Fighting Techniques of the Oriental World, Amber Books (2008).
  • Nossov, Konstantin War Elephants (2008) ISBN 978-1-84603-268-4.
  • Rance, Philip, "Elephants in Warfare in Late Antiquity", Acta Antiqua Academiae Scientiarum Hungaricae 43 (2003) 355-384.
  • Rance, Philip, "Hannibal, Elephants and Turrets in Suda Θ 438 [Polybius Fr. 162B] – An Unidentified Fragment of Diodorus", Classical Quarterly 59.1 (2009) 91-111.
  • Rawlinson, George The Seven Great Monarchies of the Ancient Eastern World: The Seventh Monarchy: History of the Sassanian or New Persian Empire (1885; reprint 2007) ISBN 9781428647.
  • Said, Edward Orientalism (1978) ISBN 0-394-74067-X.
  • Sankalia, H.D., Ramayana: Myth or Reality, New Delhi (1963).
  • Schafer, Edward H. "War Elephants in Ancient and Medieval China," Oriens (Volume 10, Number 2, 1957): 289–291.
  • Scullard, H., "Hannibal’s elephants", Numismatic Chronicle (ser. 6) 8 (1948) 158-68
  • Scullard, H. H. The Elephant in the Greek and Roman World, London (1974) ISBN 0-500-40025-3.
  • White, Horace (ed) Appian, The Foreign Wars (1899).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]